vanban.org

Bản án 21/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/Về quan hệ hôn nhân:

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Phạm Lương H. Ông Phạm Lương H được ly hôn với bà Đinh Thị H. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoạch - Hồi xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? 1/Về quan hệ hôn nhân:
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2018/HNGĐ-ST;
Ngày: 03/5/2018;
V/v: “Xin ly hôn ”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Anh Nga.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Huy Trân.

2. Bà Bùi Thị Út.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Cốc – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

- Ñaïi dieän Vieän kieåm saùt nhaân daân TP. Phan Rang – Tháp Chàm tham gia phieân toøa: Baø Nguyễn Thị Thanh Hiếu – Kieåm saùt vieân.

Ngày 03 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang

- Tháp Chàm xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 56/2018/TLST-HNGĐ, ngày 31 tháng 01 năm 2018 về việc: “Xin ly hôn với một bên bị Tòa án tuyên bố mất tích” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/QĐXXST – HNGĐ, ngày 17 tháng 4 năm giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Phạm Lương H, sinh năm 1961. (Có mặt).

Địa chỉ: Khu phố 7, phường Ph, thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

- Bị đơn: Bà Đinh Thị H, sinh năm 1962 (Vắng mặt).

Địa chỉ cuối cùng trước khi bị mất tích: Khu phố 7, phường Ph, thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 30/01/2018 và tại phiên tòa ngày hôm nay, nguyên đơn ông Phạm Lƣơng H trình bày:

Ông và bà Đinh Thị H chung sống với nhau từ năm 1981 là hoàn tòan tự nguyện, hai bên gia đình có tổ chức cưới hỏi đầy đủ. Đến năm 1982 ông và bà H đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện D, tỉnh Hà Nam, nhưng ông đã làm thất lạc giấy đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn thì vợ chồng ông chung sống tại xã Đ, huyện D, tỉnh Hà Nam đến năm 1989 thì vợ chồng ông vào tỉnh Lâm Đ làm ăn khoảng 03 – 04 năm nhưng kinh tế không ổn định, nên đến năm 1993 vợ chồng ông đến khu phố 7, phường Ph, TP. Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận sinh sống.

Vợ chồng ông chung sống không hạnh phúc do không hợp nhau, bà H có tật xấu là khi có chuyện không vừa ý thì bỏ nhà đi, đi đâu không báo cho ai biết, đi khi nào chán thì lại về, trong khoảng thời gian sinh sống tại Ninh Thuận thì bà H đã bỏ nhà đi 08 lần. Đến đầu năm 2013 bà H khóa cửa nhốt ông trong nhà lúc ông đang bị say rượu rồi bỏ đi biệt tích cho đến nay không ai biết tung tích của bà H, vì vậy ông nộp đơn đến Tòa án nhân dân TP. Phan Rang – Tháp Chàm yêu cầu tuyên bố bà Đinh Thị H bị mất tích. Ngày 15/01/2018 Tòa án nhân dân TP. Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận ra Quyết định số 01 tuyên bố bà Đinh Thị H bị mất tích.

Nay ông khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân TP. Phan Rang – Tháp Chàm giải quyết cho ông ly hôn với bà Đinh Thị H.

Về con chung: Vợ chồng ông có 03 người con chung tên Phạm Thị H, sinh năm: 1983, Phạm Lương H, sinh năm: 1985 và Phạm Lương G, sinh năm: 1987 (đã trên 18 tuổi) ông không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung & nợ chung: Ông không yêu cầu tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký luôn tuân thủ theo quy định của tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng là nguyên đơn luôn chấp hành đúng pháp luật.

Về nội dung giải quyết vụ án: Ông Phạm Lương H và bà Đinh Thị H chung sống với nhau từ năm 1981, đến năm 1982 ông H và bà H đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam, nhưng ông H đã làm thất lạc giấy đăng ký kết hôn, xác định thời gian sống chung, nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Căn cứ khoản 2 điều 68 Bộ luật dân sự: “Trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích thì Tòa án giải quyết cho ly hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình”. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Phạm Lương H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Xét về quan hệ hôn nhân: Ông Phạm Lương H và bà Đinh Thị H chung sống với nhau từ năm 1981 là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Đến năm 1982 ông H và bà H đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam, nhưng ông đã làm thất lạc giấy đăng ký kết hôn. Hội đồng xét xử xác định đây là hôn nhân hợp pháp.

Trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, ông Phạm Lương H vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với bà Đinh Thị H vì tình cảm của ông với bà H đã hết, bà H đã bỏ đi biệt tích 05 năm nay không quan tâm gì đến ông và các con. Ông đã nộp đơn đến Tòa án yêu cầu tuyên bố bà H mất tích. Ngày 15/01/2018 Tòa án nhân dân TP. Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận mở phiên họp và ra Quyết định giải quyết việc dân sự số: 01/2018/QĐST-VDS chấp nhận yêu cầu của ông H tuyên bố bà Đinh Thị H mất tích. Vì vậy căn cứ khoản 2 điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015: “Trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích thì Tòa án giải quyết cho ly hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình”; Căn cứ khoản 2 điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 “Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn”. Vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Phạm Lương H

Về quan hệ con cái: Ông Phạm Lương H và bà Đinh Thị H có 03 người con chung đã trên 18 tuổi, nên ông H không yêu cầu tòa án giải quyết.

Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Ông H không yêu cầu tòa án giải quyết.

[4] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ Luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội khóa 14, ông Phạm Lương H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Điều 28, khoản 1 điều 35, Khoản 4 Điều 147 Bộ Luật tố tụng dân sự; Khoản 2 điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 2 điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội khóa 14

Tuyên xử:

1/Về quan hệ hôn nhân:

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Phạm Lương H.

Ông Phạm Lương H được ly hôn với bà Đinh Thị H.

2/ Về án phí:

Ông Phạm Lương H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0015195, ngày 30/01/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang-Tháp Chàm (Ông Phạm Lương H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm).

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ