vanban.org

Bản án 21/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chị Nghiêm Thị H được ly hôn anh Nguyễn Ngọc Q.

Về con chung: Giao chị Nghiêm Thị H tiếp tục nuôi 02 con chung là cháu Nguyễn Đức H, sinh ngày 25/7/2009 và cháu Nguyễn Thị Thùy D, sinh ngày 18/10/2004. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh Q cho đến khi có đề nghị, thay đổi mới. Anh Q có quyền thăm con chung sau khi ly hôn, không ai được n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Chị Nghiêm Thị H được ly hôn anh Nguyễn Ngọc Q.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ỨNG HOÀ - HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số : 21/2018/HNGĐ-ST
Ngày 21/6/2018
V/v: “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
giữa Chị Nghiêm Thị H và anh Nguyễn
Ngọc Q”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ - TP HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Ông Nguyễn Thành Trung

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Vân

2. Ông Nguyễn Hạ Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Lành – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, TP Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa tham gia phiên Tòa : Bà Nguyễn Thị Khuyến - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 06 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 100/2018/TLST – HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2018 về Tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số : 13/2018/QĐXX – ST ngày 01 tháng 06 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nghiên Thị H, Sinh năm 1983, Có mặt

HKTT: Phường T, Quận N, Thành Phố Hà Nội.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc Q, Sinh năm 1979

HKTT: Thôn V, xã V, huyện U, TP Hà Nội,

( Anh Q có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN :

Tại đơn xin ly hôn, bản tự khai, biên bản lấy lời khai - Nguyên đơn Chị Nghiêm Thị H trình bầy : Chị kết hôn với anh Nguyễn Ngọc Q do tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Viên An, huyện Ứng Hòa, Tp Hà Nội năm 2003. Quá trình vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do anh Q không chịu làm ăn, chơi bời rượu chè, cờ bạc. Nhiều lần chị khuyên giải nhưng anh Q vẫn không chịu sửa chữa, còn nhiều lần hành hạnh đánh đập vợ con. Năm 2012 chị đã làm đơn xin ly hôn anh Q, xong vì thương các con nên chị lại về đoàn tụ. Sau khi đoàn tụ tình cảm vợ chồng không cải thiện được, anh Q vẫn rượu chè cờ bạc bê tha. Chị cùng các con bỏ về nhà ngoại ở Tây Mỗ, Từ Liêm, Hà Nội làm ăn sinh sống, vợ chồng sống ly thân 6 năm nay, từ khi ly thân anh Quang không còn hỏi han gì mẹ con chị. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị xin được ly hôn để ổn định cuộc sống.

Tại bản biên bản lấy lời khai Bị đơn anh Nguyễn Ngọc Q trình bày: Anh tự nguyện kết hôn với chị Nghiêm Thị H có đăng ký tại UBND xã Viên An vào năm 2003. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì mâu thuẫn, nguyên nhân do trước khi kết hôn với anh, chị Hiền đã có một đời chồng , khi về sống chung vợ chồng không hiểu nhau nên thường xuyên xảy ra va chạm xích mích. Cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc, anh và chị H sống ly thân 10 năm nay, không ai quan tâm đến ai. Nay anh được biết chị H xin ly hôn anh, anh nhận thấy tình cảm giữa 2 người không còn nên anh cũng nhất trí.

Về con chung chị H, anh Q đều xác nhận: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Đức H, sinh ngày 25/7/2009 và cháu Nguyễn Thị Thùy D, sinh ngày 18/10/2004. Khi ly hôn chị H xin nuôi 2 con, không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con. Anh Q có quan điểm anh xin nuôi 1 cháu. Nếu chị H xin nuôi cả 2 con anh cũng nhất trí, anh không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản, công nợ chung: Chị H, anh Q đều xác nhận không có gì .

Tại phiên tòa :

- Chị Nghiêm Thị H vẫn xin cương quyết xin được ly hôn và xin nuôi con.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa tham gia phiên tòa kết luận:

+ Về tố tụng : Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa đã thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, tiến hành tố tụng là đúng pháp luật. Người tham gia tố tụng được thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về nội dung : Vợ chồng chị Nghiêm Thị H và anh Nguyễn Ngọc Q trong cuộc sống vợ chồng không hợp nhau, vợ chồng không còn tình cảm với nhau, hai người đã sống ly thân nhiều năm nay. Chị chị H xin ly hôn và xin được nuôi con anh Q nhất trí. Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 56, Điều 81,82,83 Luật HNGĐ năm 2014: Xử chị Nghiêm Thị H được ly hôn anh Nguyễn Ngọc Q; Giao chị H tiếp tục được nuôi cháu H và cháu D ; Chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con; Tài sản chung chị H, anh Q không có gì nên không giải quyết; Chị H phải nộp án phí theo qui định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng : Nguyên đơn chị Nghiêm Thị H đã nộp đơn cùng các tài liệu, chứng cứ theo quy định. Tranh chấp của vụ án là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình – Theo khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 36, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, TP Hà Nội. Trong qua tr×nh gi¶i quyÕt vô ¸n anh Nguyễn Ngọc Q có đơn xin xét xử vắng mặt, c¨n cø khoản 1 §iÒu 228 Bé luËt tè tông d©n sù Héi ®ång xÐt xö vÉn tiÕn hµnh xÐt xö vô ¸n.

Về quan hệ hôn nhân : Chị Nghiêm Thị H và anh Nguyễn Ngọc Q kết hôn do tự nguyện, có đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Viên An, huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội vào năm 2003 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được mấy năm thì mâu thuẫn. Do nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là do anh Q lười lao động, chơi bời, cờ bạc, rượu chè, không quan tâm đến gia đình vợ con. Anh Q nhiều lần đánh đập vợ con, chị H không chịu được đã bỏ về quê ngoại sinh sống. Từ năm 2012 cho đến nay vợ chồng đã sống ly thân không ai còn quan tâm đến ai. Nay nguyên đơn, bị đơn đều xác nhận không còn tình cảm với nhau. Chị H xin ly hôn anh Q cũng nhất trí .

Hội đồng xét xử xét thấy: Tình trạng hôn nhân, mâu thuẫn giữa vợ chồng chị H và anh Q đã đến mức trầm trọng, cuộc sống vợ chồng không thể kéo dài. Đơn xin ly hôn của chị H phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình nên hội đồng xét xử chấp nhận, xử cho chị H được ly hôn với anh Q.

Về con chung : Vợ chồng sinh được 02 con chung là cháu Nguyễn Đức Huy, sinh ngày 25/7/2009 và cháu Nguyễn Thị Thùy D, sinh ngày 18/10/2004. Khi ly hôn chị H xin được nuôi cả 2 con, không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con, hơn nữa nguyện vọng của các cháu xin được ở với mẹ. Anh Q cũng nhất trí để chị H nuôi 2 con và không cấp dưỡng. Xét yêu cầu xin được nuôi con của chị H là thỏa đáng . Để ổn định về nơi ở và đảm bảo quyền lợi cho con trẻ nên giao 2 cháu H và cháu D cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân gia đình. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh Q cho đến khi có đề nghị thay đổi mới. Anh Q có quyền thăm con chung sau khi ly hôn không ai được cản trở là phù hợp với Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình

Về tài sản, công nợ chung : Chị H n, anh Q đều không yêu cầu giải quyết nên Tòa không giải quyết

Về án phí và quyền kháng cáo : Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phi và lệ phí ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì chị Nghiêm Thị H phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật. Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa, kiểm sát viên tham gia phiên Tòa đã nhận xét về thủ tục tố tụng Tòa án đã thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Quan điểm giải quyết vụ án đã phân tích, đánh giá mâu thuẫn của vợ chồng chị H, anh Q và đề nghị Tòa xét xử cho chị H được ly hôn anh Q, giao 2 cháu H và cháu D cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH :

Căn cứ vào : Điều 56, 81, 82,83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 36, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, các Điều 271; 273; 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Tuyên xử : Chấp nhận đơn xin ly hôn của chi Nghiêm Thị H.

1.Chị Nghiêm Thị H được ly hôn anh Nguyễn Ngọc Q.

2.Về con chung: Giao chị Nghiêm Thị H tiếp tục nuôi 02 con chung là cháu Nguyễn Đức H, sinh ngày 25/7/2009 và cháu Nguyễn Thị Thùy D, sinh ngày 18/10/2004. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh Q cho đến khi có đề nghị, thay đổi mới. Anh Q có quyền thăm con chung sau khi ly hôn, không ai được ngăn cản.

3.Về án phí : Chị Nghiêm Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0008616 ngày 26/4/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ứng Hòa, chị Hiền đã nộp đủ tiền án phí.

3.Về quyền kháng cáo : Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày kể từ ngày tuyên án đối với chị H, kể từ ngày bản án được giao hợp lệ hoặc niêm yết tại UBND xã Viên An đối với anh Q./.

Cỡ chữ