vanban.org

Bản án 21/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Đinh Hữu V được ly hôn chị Đinh Thị D

Về án phí: Anh Đinh Hữu V phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) anh V đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0003578 ngày 26/3/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ thành tiền án phí hôn n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa anh V chi D"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Đinh Hữu V được ly hôn chị Đinh Thị D
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲNH PHỤ
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2018/HNGĐ- ST
Ngày: 31-5-2018
V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Hùng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Công Tụ

2. Bà Nguyễn Thị Phƣơng

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Hạnh - Thư ký TAND huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đình Anh- Kiểm sát viên

Ngày 31 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 58/2018/TLST- HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2018 về tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2018/QĐXX-ST ngày 27 tháng 4 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên toà số 08/2018/QĐST- HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Đinh Hữu V, sinh năm 1969 Đăng ký HKTT: Thôn Đ, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình Địa chỉ tạm trú: Nhà số 4/66, đường V, phường V, quận N, thành phố Hải Phòng.

2. Bị đơn: Chị Đinh Thị D, sinh năm 1971 Địa chỉ: Thôn Đ, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình

(Tại phiên toà có mặt anh V, vắng mặt chị D không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và tại phiên toà, nguyên đơn là anh Đinh Hữu V trình bày:

Anh kết hôn với chị Đinh Thị D do tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình vào ngày 22/11/1989. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hoà thuận đến năm 2001 thì anh ra Hải Phòng làm ăn nhưng vẫn thường xuyên về gia đình. Đến khoảng đầu năm 2006 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do chị D ghen tuông với anh và mâu thuẫn giữa chị D với mẹ chồng. Khoảng tháng 9/2006 anh về nhà sinh sống được khoảng 03 tháng nhưng vợ chồng không hoà hợp do quan điểm sống khác nhau, chị D không tôn trọng anh nên anh lại ra Hải Phòng làm ăn cho đến khoảng tháng 4/2017 mẹ đẻ anh ốm nên thỉnh thoảng anh có về chăm sóc mẹ cho đến khi mẹ anh mất vào tháng 11/2017. Sau khi mẹ mất chỉ khi nào có công việc hương hoả anh mới về gia đình. Toàn bộ thời gian anh ở Hải Phòng anh không liên lạc gì với chị D mà chỉ liên lạc với con. Anh và chị D chính thức ly thân từ ngày 29/12/2006 âm lịch cho đến nay. Anh V thấy không thể tiếp tục kéo dài cuộc sống vợ chồng được nữa nên anh xin ly hôn chị D.

Anh V khai anh và chị D có hai con chung là Đinh Hữu V1, sinh ngày 06/8/1991 và Đinh Hữu V2, sinh ngày 05/01/1995. Hiện nay hai con chung đều đã đủ 18 tuổi trưởng thành nên anh không yêu cầu Toà án giải quyết về con chung.

Về tài sản: Anh V khai anh và chị D không có khoản nợ chung nào; anh không yêu cầu Toà án giải quyết về tài sản.

- Bị đơn là chị Đinh Thị D đã được Toà án tống đạt hợp lệ nhưng chị D vẫn vắng mặt tại các phiên họp và tại phiên toà. Tại bản tự khai ngày 15/3/2018 chị D đã trình bày về thời gian, điều kiện, hoàn cảnh kết hôn đúng như anh V đã khai. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hoà thuận bình thường. Năm 2008 anh V bỏ nhà ra Hải Phòng làm ăn sinh sống mấy năm không về nhà. Đến tháng 11/2011 (âm lịch) thì anh V về gia đình nhưng không ở hẳn nhà mà cứ vài ngày lại đi rồi về. Sau khoảng 01 tháng đến ngày 30 tháng 12 năm 2011 (âm lịch- 30 tết) thì anh V lại bỏ đi không nói với ai. Từ đó thỉnh thoảng vài tháng anh V mới về qua nhà thăm mẹ đẻ một lúc rồi lại đi, không quan tâm chăm sóc vợ con. Chị nghe nói anh V có quan hệ ngoại tình ngoài Hải Phòng, chị nói thì anh V không thừa nhận nên chị không nói gì nữa. Chị và anh V đã chính thức ly thân kể từ khi anh V bỏ đi vào ngày 30/12/2011 âm lịch cho đến nay. Kể từ năm 2008 đến nay anh V thường xuyên sinh sống tại Hải Phòng, con cái học từ lớp 7 đến hết cấp 3 anh V cũng không gửi tiền về cho con ăn học. Nay anh V làm đơn xin ly hôn, nếu anh V biết khuyết điểm và quay về chung sống với vợ con thì chị chấp nhận vợ chồng đoàn tụ. Nếu anh V vẫn cương quyết ly hôn thì chị cũng phải chịu.

Về con chung: Chị và anh V có 02 con chung đúng như anh V đã trình bày. Hiện nay hai con chung đã đủ 18 tuổi trưởng thành nên chị không có yêu cầu giải quyết.

Về tài sản: Chị D khai chị và anh V không có tài sản gì chung, không có khoản nợ chung nào. Chị không yêu cầu Toà án giải quyết về tài sản.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến tại phiên toà: Quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đều tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn vắng mặt, do vậy Viện kiểm sát không đưa ra quan điểm về việc chấp hành pháp luật tại phiên toà của bị đơn.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình; về quan hệ hôn nhân cần xử cho anh V được ly hôn chị D; về quan hệ con chung và tài sản chung không đặt ra giải quyết. Anh V phải chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bị đơn là chị Đinh Thị D đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên toà. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung: Quan hệ hôn nhân giữa anh Đinh Hữu V và chị Đinh Thị D xây dựng trên cơ sở tự nguyện, được UBND xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình đăng ký kết hôn vào ngày 22/11/1989 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, theo anh V khai vợ chồng chung sống hoà thuận đến khoảng đầu năm 2006 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do chị D ghen tuông và mâu thuẫn giữa chị D với mẹ chồng. Anh V chủ yếu sinh sống làm ăn tại Hải Phòng từ năm 2006 cho đến nay và toàn bộ thời gian ở Hải Phòng anh không liên lạc gì với chị D. Anh và chị D chính thức ly thân từ ngày 29/12/2006 âm lịch cho đến nay. Anh V thấy không thể tiếp tục kéo dài cuộc sống vợ chồng được nữa nên xin ly hôn chị D. Về phía chị D khai kể từ năm 2008 đến nay anh V thường xuyên sinh sống tại Hải Phòng, thỉnh thoảng có về gia đình rồi lại đi luôn, không quan tâm chăm sóc vợ con. Chị có nghe nói anh V có quan hệ ngoại tình tại Hải Phòng. Chị và anh V đã chính thức ly thân kể từ ngày 30/12/2011 âm lịch cho đến nay. Nếu anh V biết khuyết điểm và quay về chung sống với vợ con thì chị chấp nhận vợ chồng đoàn tụ. Nếu anh V vẫn cương quyết ly hôn thì chị cũng phải chịu. Việc chị D không đến tham gia các phiên họp hoà giải và phiên toà cho thấy vợ chồng không có thiện ý hay giải pháp nào để đoàn tụ. Xét mâu thuẫn giữa anh V, chị D đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cần chấp nhận yêu cầu của anh V, xử cho anh V được ly hôn chị D là phù hợp với điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Hiện nay hai con chung của anh V, chị D đều đã đủ 18 tuổi trưởng thành nên không đặt ra giải quyết.

Về quan hệ tài sản: Anh V, chị D đều không yêu cầu Toà án giải quyết về tài sản.

Về án phí: Anh V phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, điÓm b kho¶n 2 ®iÒu 227, kho¶n 3 §iÒu 228 cña Bé luËt Tè tông d©n sù; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Đinh Hữu V được ly hôn chị Đinh Thị D

2. Về án phí: Anh Đinh Hữu V phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) anh V đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0003578 ngày 26/3/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ thành tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Anh Đinh Hữu V có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án. Chị Đinh Thị D cã quyÒn kh¸ng c¸o trong h¹n 15 ngµy trßn kÓ tõ ngµy nhËn tèng ®¹t hoÆc niªm yÕt hîp lÖ b¶n ¸n.

Cỡ chữ