- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị L - Nguyễn Duy P"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2018/HNGĐ-ST Ngày: 26/7/2018 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Phạm Thị Tường Vy
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Bà Trần Thị Thanh Trang;
+ Ông Trương Văn Hòa.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Trực – Thư ký Tòa án.
- Đại diện VKSND huyện Cẩm Mỹ tham gia phiên tòa: ông Đặng Tiến Mạnh – Kiểm sát viên.
Trong ngày 26/7/2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ xét xử sơ thẩm vụ án HNGĐ thụ lý số: 07/2018/TLST–HNGĐ ngày 05/01//2018 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/6/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 34/2018/QĐST-HNGĐ ngày 10/7/2018, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị L – Sinh năm: 1989. Địa chỉ: khu 5, ấp S, xã L, huyện C, tỉnh Đồng Nai. (Có mặt)
2. Bị đơn: anh Lê Duy P – Sinh năm: 1983. Địa chỉ: khu 5, ấp S, xã L, huyện C, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn ly hôn, trong quá trình làm việc và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn là chị Lê Thị L trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: chị và anh Lê Duy P tìm hiểu nhau một thời gian và đến năm 2007 cả 2 tiến đến hôn nhân, tuy nhiên chị và anh P không đăng ký kết hôn. Đây là hôn nhân lần đầu của cả 2 người. Quá trình chung sống cả 2 phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau dẫn đến cãi vã và vợ chồng đã ly thân hơn 02 năm nay.
- Về con chung: Vợ chồng có 1 con chung cháu Lê Uyên N, sinh ngày 01/12/2007. Khi ly hôn chị yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cháu N và không yêu cầu anh P phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết.
* Đối với bị đơn là anh Lê Duy P: Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ đối với anh P nhưng anh P không đến Tòa án làm việc nên không có lời khai của anh P.
* Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên Tòa: Việc thụ lý, thu thập tài liệu, chứng cứ vụ án của Tòa án thực hiện theo quy định pháp luật. Về quan điểm giải quyết vụ án: vì chị Lvà anh P không đăng ký kết hôn nên đề nghị Tòa án tuyên bố chị Lương và anh P không phải là vợ chồng; về con chung: giao cháu N cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng; tạm miễn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh P.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: chị Lê Thị L và anh Lê Duy P chung sống với nhau nhưng không đăng ký kết hôn và anh chị có 01 con chung. Nay chị L khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh P và yêu cầu được trực tiếp nuôi con. Như vậy, đây là vụ án về "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 BLTTDS. Theo biên bản xác minh ngày 14/3/2018, thì anh P có HKTT và hiện đang sinh sống tại xã L, huyện C, tỉnh Đồng Nai. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS thì vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai.
Về thủ tục tố tụng: anh Lê Duy P đã được tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 BLTTDS. HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt anh P là hoàn toàn phù hợp.
Về nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Lvà Lê Duy P chung sống với nhau từ năm 2007, 2 anh chị có đủ điều kiện để đăng ký kết hôn theo Luật HN&GD nhưng cho đến thời điểm hiện nay anh chị vẫn không đăng ký kết hôn. Theo biên bản xác minh ngày 14/3/2018 của TAND huyện Cẩm Mỹ tại UBND xã L thể hiện chị L và anh P đã sống như vợ chồng với nhau từ năm 2007 nhưng không đăng ký kết hôn. Như vậy, vì 2 anh chị có đủ điều kiện để kết hôn và buộc phải đăng ký kết hôn nhưng anh chị không đăng ký kết hôn. Vậy nên, cần tuyên bố anh chị không phải vợ chồng.
- Về con chung: theo chị L thì chị và anh P có 01 con chung là cháu Lê Uyên N, sinh ngày 01/12/2007. Khi ly hôn chị yêu cầu trực tiếp nuôi cháu và cháu N cũng có nguyện vọng xin được ở với mẹ. Vì vậy, để đảm bảo nguyện vọng của cháu N và hiện chị L cũng có công việc thu nhập ổn định nên cần giao cháu N cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
- Về cấp dưỡng: chị L không yêu cầu nên không xem xét.
- Về tài sản chung và nợ chung: Hiện không ai có yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.
Về án phí: chị Lê Thị L nộp 300.000 đồng án phí DSST về ly hôn.
* Lời phát biểu của VKSND huyện Cẩm Mỹ phù hợp với quan điểm của HĐXX nên ghi nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, 228, Điều 266 của Bộ luật TTDS;
Các Điều 8, Điều 9, Điều 14, Điều 15, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật HNGĐ năm 2014;
Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị Lê Thị L.
- Về quan hệ hôn nhân: tuyên bố chị Lê Thị L và anh Lê Duy P không phải là vợ chồng.
- Về con chung: giao cháu Lê Uyên N, sinh ngày 01/12/2007 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng.
- Về cấp dưỡng: Tạm miễn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh P.
Sau khi ly hôn quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chung được pháp luật bảo vệ.
- Về tài sản chung, nợ chung: không có ai yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
2/ Về án phí: Chị Lê Thị L nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí DSST về ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí mà chị L đã nộp tại biên lai thu tiền số 004078 ngày 05/01/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai. Chị L đã nộp đủ án phí.
Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện CM; - THA DS huyện CM; - UBND xã L; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Thị Tường Vy |