vanban.org

Bản án 21/2018/HNGĐ-PT — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 29/08/2018 Hôn nhân và gia đình Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 29/08/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Quốc Th về việc xin được nuôi cháu Nguyễn Đăng Kh, giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần nuôi con chung.

Tuyên xử: Giao cháu Nguyễn Đăng Kh, sinh ngày 22/4/2015 cho chị Kống Ngọc M trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con trưởng thành. Anh Nguyễn Quốc Th không phải cấp dưỡng nuôi con. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau ly hôn và thay đổi nuôi con được thực hiện theo quy định của Luật Hô… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Kống Ngọc M xin ly hôn anh Nguyễn Quốc Th"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Quốc Th về việc xin được nuôi cháu Nguyễn Đăng Kh, giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần nuôi con chung.
  • Căn cứ chính? Điều 29 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2018/HNGĐ-PT
Ngày: 29-8-2018
V/v tranh chấp “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Huỳnh Châu Thạch

Các Thẩm phán:

Ông Bùi Hữu Nhân

Bà Vũ Thị Nguyệt

- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Văn Tỏ – Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thúy – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng; xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 19/2018/TLPT-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2018 về tranh chấp: “Ly hôn”.

Do Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 10/2018/HNGĐ-ST ngày 28/6/2018 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 219/2018/QĐ-PT ngày 08/8/2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Kống Ngọc M, sinh năm: 1996; cư trú tại thôn L2, xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, có mặt.

Bị đơn: Anh Nguyễn Quốc Th; sinh năm: 1994; cư trú tại đường T, thị trấn D, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Võ Văn H; cư trú tại đường T, thị trấn D, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; Luật sư của Văn phòng Luật sư Võ Văn H, Đoàn Luật sư tỉnh Lâm Đồng, có mặt.

Người kháng cáo: Anh Nguyễn Quốc Th – Bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời trình bày tại các bản tự khai của chị Kống Ngọc M thì chị và anh Nguyễn Quốc Th đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 15/01/2016 (số 01/2016); hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới; sau khi kết hôn thì vợ chồng chung sống với gia đình nhà chồng tại đường Trần Quốc T, thị trấn D, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Theo chị M thì vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chị sinh con trước khi tổ chức lễ cưới nên gia đình nhà chồng không tôn trọng mà coi thường, thậm chí xúc phạm chị trong khi đó anh Th không quan tâm, chăm sóc, bảo vệ mà còn đánh đập chị, dẫn đến vợ chồng hay xích mích, cãi vã; từ tháng 01/2017 đến nay vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên xin được ly hôn để trả tự do cho đôi bên.

Về con chung: vợ chồng có một con chung là cháu Nguyễn Đăng Kh, sinh ngày 22/4/2015, khi ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu Kh đến khi đủ 18 tuổi, không yêu cầu anh Th cấp dưỡng.

Về tài sản chung: vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: không có.

Anh Th thống nhất với lời trình bày của chị M về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung, tuy nhiên vợ chồng mâu thuẫn là do tính tình không hòa hợp, có nhiều bất đồng, cách cư xử của vợ chồng với nhau và đối với hai bên gia đình không được khéo léo dẫn đến xung đột, cãi vã. Từ tháng 01/2017 đến nay chị M bỏ về nhà bố mẹ đẻ tại xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng sinh sống nên vợ chồng đã ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Nay chị M yêu cầu được ly hôn thì anh cũng đồng ý; tuy nhiên anh xin được nuôi con chung, không yêu cầu chị M cấp dưỡng.

Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không thành.

Tại Bản án số 10/2018/HNGĐ-ST ngày 28/6/2018 Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng đã xử:

1/ Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Kống Ngọc M và anh Nguyễn Quốc Th.

2/ Về con chung: giao cháu Nguyễn Đăng Kh, sinh ngày 22/4/2015 cho chị Mi trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chị M không yêu cầu giải quyết nên không xem xét đến.

Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

3/ Về án phí: Buộc chị Kống Ngọc M phải chịu 300.000đ tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ chị M đã nộp theo Biên lai thu số 0004964 ngày 07/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ (chị M đã nộp đủ). Anh Nguyễn Quốc Th không phải chịu tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Bản án còn tuyên về quyền yêu cầu thi hành án.

Ngày 02/7/2018 anh Th có đơn kháng cáo xin được nuôi cháu cháu Nguyễn Đăng Kh, sinh ngày 22/4/2015.

Tại phiên tòa,

Anh Nguyễn Quốc Th vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Luật sư Võ Văn H đề nghị sửa án sơ thẩm theo hướng giao cháu Nguyễn Đăng Kh cho anh Th nuôi dưỡng, giáo dục đến khi trưởng thành.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án. Về nội dung: Đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Xuất phát từ việc vợ chồng mâu thuẫn với nhau trong cuộc sống nên chị Kống Ngọc M xin ly hôn anh Nguyễn Quốc Th, Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp giữa các bên là “Ly hôn” và giải quyết các quan hệ hôn nhân, con cái là phù hợp với quy định của pháp luật.

Qua xem xét đơn kháng cáo của anh Th về việc xin được nuôi con chung là cháu Nguyễn Đăng Kh, sinh ngày 22/4/2015 thì thấy rằng cháu Kh hiện nay chỉ hơn 03 tuổi, cần sự chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục của mẹ hơn, chị M cũng xuất trình chứng cứ có thu nhập ổn định, để đảm bảo cho sự phát triển bình thường và lợi ích về mọi mặt của con, cần giao cháu Kh cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành, chị M không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con nên không đề cập.

Với những nhận định trên cần bác kháng cáo của anh Nguyễn Quốc Th về việc xin được nuôi con chung là cháu Nguyễn Đăng Kh, giữ nguyên Bản án sơ thẩm về phần nuôi con chung.

Các phần khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên anh Th phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 2 Điều 282, khoản 1 Điều 308;

- Căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Quốc Th về việc xin được nuôi cháu Nguyễn Đăng Kh, giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần nuôi con chung.

Tuyên xử: Giao cháu Nguyễn Đăng Kh, sinh ngày 22/4/2015 cho chị Kống Ngọc M trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con trưởng thành. Anh Nguyễn Quốc Th không phải cấp dưỡng nuôi con.

Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau ly hôn và thay đổi nuôi con được thực hiện theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về án phí: Anh Nguyễn Quốc Th phải chịu 300.000đ án phí phúc thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm là 300.000đ theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0005093 ngày 10/7/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; anh Th đã nộp đủ án phí.

Những quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

+ Về nghĩa vụ thi hành án:

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ