- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Lê Văn T 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày 24/5/2023; Giao bị cáo Lê Văn T cho Ủy ban nhân dân phường T, quận B, thành phố H giám sát giáo dục trong thời …
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 260 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 209/2023/HS-PT Ngày: 17-7-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Châu
Các Thẩm phán:
1. Ông Phan Thanh Nguyễn
2. Ông Nguyễn Văn Hậu
- Thư ký phiên tòa: Ông Lý Lê Trọng Nghĩa - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Hoàn - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 206/2023/TLPT-HS ngày 08/6/2023 đối với bị cáo Lê Văn T do có kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị hại là ông Huỳnh Văn X đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 83/2023/HS-ST ngày 25/4/2023 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị cáo bị kháng cáo:
Họ và tên: Lê Văn T; giới tính: Nam; sinh ngày: 28/01/1985 tại tỉnh B; nơi đăng ký thường trú: ấp A, xã T, huyện M, tỉnh B; chỗ ở: đường H, phường T, quận B, thành phố H; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lê Văn C và bà Nguyễn Thị D; có vợ và 01 con sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo tại ngoại; có mặt.
- Bị hại: Ông Huỳnh Hiếu T1, sinh năm 1976 (chết)
Người đại diện hợp pháp của bị hại:
1. Ông Huỳnh Văn X, sinh năm 1950 - là cha ruột bị hại; có mặt.
Bà Lê Thị B, sinh năm: 1955 - là mẹ ruột bị hại; vắng mặt (bà Lê Thị B ủy quyền cho ông Huỳnh Văn X).
Địa chỉ: ấp C, xã N, huyện B, thành phố H.
2. Bà Lê Thị Ngọc M, sinh năm 1980 - là vợ bị hại. 3. Cháu Huỳnh Thanh N, sinh năm 2015 - là con ruột của bị hại. Bà Lê Thị Ngọc M là người đại diện theo pháp luật. Cùng địa chỉ: đường D, phường T, thành phố TĐ, thành phố H; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Lê Văn T là lái xe tải của Công ty Cổ phần sản xuất thương mại thép PGP. Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 20/3/2021, Lê Văn T điều khiển xe tải biển số 51C-597.80 đỗ trước cổng của công ty, Lê Văn T tự ý vào kho lấy xe nâng hiệu Toyota Geneo 35 không biển số rồi điều khiển ra chỗ xe tải đang đỗ để chuyển sắt trên xe tải vào kho. Khi điều khiển xe nâng vừa ra khỏi cổng công ty tới mặt đường hẻm 951/53 Hương lộ B, phường A, quận Bình Tân thì do thiếu quan sát, không hạ càng nâng của xe nên xảy ra va chạm vào phía trước với xe gắn máy biển số 54N7-2786 do ông Huỳnh Hiếu T1 điều khiển đang lưu thông theo chiều ngược lại trên đường hẻm 951/53 Hương lộ B, phường A, quận Bình Tân hướng từ đường CL về Hương lộ B. Tai nạn xảy ra làm ông Huỳnh Hiếu T1 ngã xuống đường, người dân đưa đi cấp cứu và chết tại bệnh viện. Kết quả khám nghiệm hiện trường ghi nhận:
- Nơi xảy ra tai nạn giao thông là đoạn đường thẳng, trải nhựa tương đối bằng phẳng, áp dụng cho xe 02 chiều lưu thông, lòng đường rộng 7,5m, một đầu nối với Hương lộ B, một đầu nối với đường CL, không có chướng ngại vật, tình trạng xe lưu thông bình thường, gần hiện trường không gắn biển báo, đèn tín hiệu giao thông;
- Xe gắn máy biển số 54N7-2786 sau tai nạn ngã sang trái nằm tại hiện trường, đầu xe hướng vào lề đối diện với lề chuẩn, đuôi xe hướng về lề chuẩn, từ tâm bánh trước và sau đo đến mép lề chuẩn lần lượt là 6,20m và 4,90m từ tâm trục bánh sau của xe đo đến tâm trục bánh trước của xe nâng chuyên dùng là 3,90m;
- Vị trí vết cày của xe gắn máy biển số 54N7-2786 sau tai nạn để lại vết cày không liên tục dài 3,0m từ điểm đầu của vết cày đo vào mép lề chuẩn là 4,8m;
- Vị trí của xe chuyên dùng nâng hàng đầu chếch vào lề chuẩn, đuôi xe nằm một phần trên lề đối chiếu với lề chuẩn, từ tâm trục bánh trước và sau bên phải của xe đo vào mép lề chuẩn lần lượt là 7,3m và 8,7m, từ điểm mũi của giá nâng hàng đo vào lề chuẩn là 5,3m; Bản kết luận giám định số 2501/KL-KTHS ngày 26/5/2022 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:
- Dấu vết phía trước xe chuyên dùng không biển số, hiệu Toyota Geneo 35 (trượt xước, bám chất màu đỏ cạnh bên trái và mặt trên thanh kim loại nâng hàng) có chiều từ trái sang phải, từ trước về sau phù hợp với dấu vết phía trước xe gắn máy biển số 54N7-2786 (nứt, vỡ các chi tiết; cụm đèn chiếu sáng, ốp nhựa đầu xe) có chiều từ trước về sau. Đây là vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện khi xảy ra tai nạn;
- Dấu vết trượt xước, mài mòn các chi tiết bên trái xe gắn máy biển số 54N7-2786 (tay cầm lái, để chân trước, để chân sau) có chiều từ trước về sau phù hợp va chạm mặt đường;
Khi xảy ra tai nạn giao thông, xe gắn máy biển số 54N7-2786 đang lưu thông trên đường hẻm 951 hướng từ đường CL đi Hương lộ B; xe chuyên dùng không biển số, hiệu Toyota Geneo 35 đang dừng phía trước bên phải cùng chiều, đầu xe hướng ra tim đường và hơi chếch về hướng đường CL so với hướng lưu thông của xe gắn máy biển số 54N7-2786;
Vị trí va chạm đầu tiên giữa xe chuyên dùng không biển số, hiệu Toyota Geneo 35 và xe gắn máy biển số 54N7-2786 chiếu xuống mặt đường nằm trước đầu vết cày số 2 thuộc phần đường bên phải đường hẻm 951 hướng từ đường CL đi Hương lộ B.
Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 426/TT.21 ngày 06/5/2021 của Trung tâm Pháp y - Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Huỳnh Hiếu T1 chết do sốc mất máu cấp do đa chấn thương.
Trách nhiệm dân sự: Bị cáo Lê Văn T và ông Thôi Thanh P (Giám đốc Công ty cổ phần sản xuất thương mại thép PGP) đã bồi thường và hỗ trợ cho gia đình bị hại số tiền 460.000.000 đồng. Ông Huỳnh Văn X, chị Lê Thị Ngọc M đã làm đơn bãi nại, xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, cam kết không thắc mắc, khiếu nại.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 83/2023/HS-ST ngày 25/4/2023 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;
Xử phạt bị cáo Lê Văn T 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày 25/4/2023;
Giao bị cáo Lê Văn T cho Ủy ban nhân dân phường T, quận B, thành phố H giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, bồi thường dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 08/5/2023, ông Huỳnh Văn X kháng cáo đề nghị tăng hình phạt và tăng mức bồi thường thiệt hại.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Huỳnh Văn X giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Đơn kháng cáo của ông Huỳnh Văn X trong thời gian luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm, về nội dung kháng cáo tăng hình phạt đối với bị cáo Lê Văn T, đại diện Viện kiểm sát xét thấy cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và căn cứ các tình tiết giảm nhẹ như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự; nguyên nhân chính xảy ra vụ việc là do lỗi hỗn hợp, hành vi phạm tội của bị cáo là lỗi vô ý, bị cáo đã tự nguyện bồi thường, hỗ trợ cho gia đình bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn bãi nại xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo; gia đình bị cáo có công với cách mạng. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ và với phân tích như đã nêu, cấp sơ thẩm đã căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo 3 năm tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo là có căn cứ nên kháng cáo tăng hình phạt của ông Huỳnh Văn X là không có cơ sở. Về nội dung kháng cáo đề nghị tăng mức bồi thường của ông Huỳnh Văn X: Tại phiên tòa phúc thẩm ông Huỳnh Văn X yêu cầu bị cáo bồi thường thêm 42.000.000 đồng nhưng không cung cấp thêm được tài liệu, chứng cứ nào cho yêu cầu kháng cáo tăng mức bồi thường của mình nên không chấp nhận kháng cáo của ông Huỳnh Văn X, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Bình Tân. Bị cáo Lê Văn T và đại diện hợp pháp của bị hại ông Huỳnh Văn X không tham gia tranh luận. Lời nói sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giữ nguyên Bản án sơ thẩm đã tuyên phạt đối với bị cáo, cho bị cáo hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng quận Bình Tân trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Đơn kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị hại là ông Huỳnh Văn X trong thời hạn luật định là hợp lệ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp phúc thẩm. [3] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Bản án sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo. Xét, bị cáo Lê Văn T đã có hành vi điều khiển xe nâng hiệu Toyota Geneo 35 nhưng không có giấy phép lái xe theo quy định. Khi điều khiển xe nâng để vận chuyển thép từ xe tải vào kho, do thiếu quan sát, không hạ càng nâng của xe nên để xảy ra va chạm với xe gắn máy do ông Huỳnh Hiếu T1 điều khiển đang lưu thông theo chiều ngược lại. Tai nạn xảy ra làm ông Huỳnh Hiếu T1 tử vong. Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Lê Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người đúng tội, không oan sai. [4] Xét kháng cáo đề nghị tăng hình phạt và tăng mức bồi thường thiệt hại của ông Huỳnh Văn X là một trong những đại diện hợp pháp của bị hại, Hội đồng xét xử xét thấy: Đối với nội dung kháng cáo tăng hình phạt: Quá trình điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu; nguyên nhân chính xảy ra vụ việc là do lỗi hỗn hợp, trong đó có một phần lỗi của bị hại khi tham gia giao thông cũng do thiếu quan sát, không làm chủ tốc độ. Đồng thời bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, khi xảy ra sự việc bị cáo cùng gia đình phối hợp với công ty nơi làm việc đã rất tích cực trong việc bồi thường, hỗ trợ cho gia đình bị hại về những thiệt hại mất mát đã xảy ra. Tại thời điểm các bên thỏa thuận mức bồi thường, ông Huỳnh Văn X là người đại diện hợp pháp của bị hại đã có đơn bãi nại xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Mặt khác, xét gia đình bị cáo có công với cách mạng, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 khi xem xét, quyết định hình phạt 03 năm tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo 05 năm đối với bị cáo là có cơ sở.
Về nội dung kháng cáo tăng mức hình phạt: Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Huỳnh Văn X yêu cầu bị cáo phải bồi thường tiếp cho ông số tiền 42.000.000 đồng nhưng ông Huỳnh Văn X không nộp bất kỳ tài liệu nào chứng minh các chi phí hợp lý theo quy định của pháp luật dân sự để chứng minh yêu cầu bồi thường của mình là có căn cứ. Hội đồng xét xử xét thấy tại biên bản thỏa thuận bồi thường giữa bị cáo, đại diện phía công ty với đại diện hợp pháp của bị hại xác định nhận đủ tiền bồi thường và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Tuy nhiên tại phiên tòa phúc thẩm, ông Huỳnh Văn X cho rằng Điều tra viên dụ ông viết và viết thêm vào rồi yêu cầu ông ký. Hội đồng xét xử xét thấy lời khai nại tại phiên tòa của ông Huỳnh Văn X là không có căn cứ. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông Huỳnh Văn X đối với bị cáo Lê Văn T.
Do không chấp nhận kháng cáo nên ông Huỳnh Văn X phải chịu án phí hình sự phúc thẩm, tuy nhiên theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì ông Huỳnh Văn X thuộc trường hợp được miễn án phí.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 83/2023/HS-ST ngày 25/4/2023 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân như sau:
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Lê Văn T 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày 24/5/2023; Giao bị cáo Lê Văn T cho Ủy ban nhân dân phường T, quận B, thành phố H giám sát giáo dục trong thời gian thử thách; Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Lê Văn T cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Nếu bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Ông Huỳnh Văn X không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án. (Đã giải thích chế định về án treo cho bị cáo.)
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - TANDTC; (1) - TAND Cấp Cao tại TP.HCM; (1) - VKSND Cấp cao tại TP.HCM; (2) - VKSND TP.HCM; (2) - Sở Tư pháp TP.HCM; (1) - P.PV06 - CA TP.HCM; (1) - TAND quận Bình Tân; (1) - VKSND quận Bình Tân; (1) - Công an quận Bình Tân; (1) - Chi cục THADS quận Bình Tân; (1) - Bị cáo; (1) - Đương sự; (4) - UBND nơi bị cáo cư trú; (1) - Lưu Tòa Hình sự, hồ sơ (25). (7) | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Châu |