vanban.org

Bản án 209/2023/DS-ST — Tranh chấp về thừa kế tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

1. Tuyên bố Văn bản phân chia tài sản thừa kế giữa bà Cao Thị Tr, bà Cao Thị Thuý Ph, ông Cao Văn B, ông Cao Văn H, chứng thực số 141, quyền số 01 PT/CC-SCT/HĐGD ngày 26/7/2012 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã (nay là phường) HT, đối với thửa đất 315B, tờ bản đồ số 05, diện tích 544m2 đất màu tại khu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thừa kế tài sản — án dân sự — "Bà N yêu cầu thừa kế tài sản là quyền sử dụng đất"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 122 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HN
TỈNH BĐ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 209/2023/DS-ST
Ngày 20 -7 - 2023
V/v tranh chấp Li quan đến yêu
cầu tuyên bố văn bản công
chứng vô hiệu và thừa kế theo
pháp luật.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HN, TỈNH BĐ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vinh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Tố và ông Võ Văn Phong.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Ba - Thư ký Toà án nhân dân thị xã HN, tỉnh BĐ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã HN tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Ly - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 7 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã HN, tỉnh BĐ xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 91/2020/TLST-DS ngày 13 tháng 3 năm 2020 về việc:“Tranh chấp Li quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu và thừa kế theo pháp luật”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 152/2023/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên toà số: 593/2023/QĐST-DS ngày 27 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phan Thị N1, sinh năm 1951; địa chỉ: T16, KV4, phường LL, thành phố QN, tỉnh BĐ.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Phan Thị N1: Bà Tạ Thị Li, sinh năm 1985; địa chỉ: T16, KV4, phường LL, thành phố QN, thành phố QN, tỉnh BĐ. (Văn bản ủy quyền ngày 30/11/2021).

- Bị đơn: Ông Cao Văn B, sinh năm 1972; địa chỉ: Khu phố TĐ, phường HH, thị xã HN, tỉnh BĐ.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ Li quan:

1. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường HT: Ông Trần Văn Th.

Địa chỉ: Khu phố MA2, phường HT, thị xã HN, tỉnh BĐ.

2. Bà Phan Thị N2, sinh năm 1949; địa chỉ: Khu phố NT, thị trấn TN, huyện Hàm TN, tỉnh BT.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Phan Thị N2: Bà Phan Thị N1, sinh năm 1951; địa chỉ:T16, KV4, phường LL, thành phố QN, thành phố QN, tỉnh BĐ. (Văn bản ủy quyền ngày 14/02/2020).

Người đại diện theo ủy quyền của bà Phan Thị N1: Bà Tạ Thị Li, sinh năm 1985; địa chỉ: T16, KV4, phường LL, thành phố QN, thành phố QN, tỉnh BĐ. (Văn bản ủy quyền ngày 30/11/2021).

3. Bà Cao Thị Tr, sinh năm 1940; địa chỉ: Khu phố TĐ, phường HH, thị xã HN, tỉnh BĐ.

4. Bà Cao Thị Thúy Ph, sinh năm 1964; địa chỉ: Thôn VP, xã VT, huyện TP, tỉnh BT.

5. Ông Cao Văn H, sinh năm 1975; địa chỉ: Khu phố TĐ, phường HH, thị xã HN, tỉnh BĐ.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Cao Văn H, của bà Cao Thị Thúy Ph, của bà Cao Thị Tr: Ông Cao Văn B, sinh năm 1972; địa chỉ: Khu phố TĐ, phường HH, thị xã HN, tỉnh BĐ. (Văn bản ủy quyền ngày 09/12/2020; 02/12/2020; 09/12/2020).

6. Ông Huỳnh Tr1, sinh năm 1962; địa chỉ: Khu phố Mỹ An 1, phường HT, thị xã HN, tỉnh BĐ.

7. Bà Võ Thị Ngh, sinh năm 1962; địa chỉ: Khu phố TXĐ, phường HH, thị xã HN, tỉnh BĐ.

8. Bà Trần Thị Th1, sinh năm 1940; địa chỉ: Ấp 1, xã XQ, huyện CM, tỉnh ĐN.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Võ Thị Ngh, của bà Trần Thị Th1: Bà Tạ Thị Li, sinh năm 1985; địa chỉ: T16, KV4, phường LL, thành phố QN, thành phố QN, tỉnh BĐ. (Các văn bản ủy quyền ngày 23/8/2022; 05/9/2022).

(Bà Li, ông B, ông Tr1 có mặt; bà N1, bà Nên, ông Hoà, bà Phương, bà Tr và ông Th vắng mặt tại phiên toà).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thị N1 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn là bà Tạ Thị Li trình bày:

Hộ bà Cao Thị S có 01 nhân khẩu, được Uỷ ban nhân dân huyện (nay là thị xã) HN, giao quyền và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 01664 QSDĐ/A10 ngày 24/12/1997 đối với thửa đất số 315B, tờ bản đồ số 05, diện tích 544m2 đất màu tại khu phố MA 1, phường HT, thị xã HN, tỉnh BĐ, nhưng do ghi nhầm nên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng ghi là hộ bà Cao Thị S1.

Bà Cao Thị S đã chết năm 1999 không để lại di chúc. Năm 2012 ông Cao Văn B, bà Cao Thị Tr, bà Cao Thị Thúy Ph, ông Cao Văn H, là các con của ông Cao Văn M (ông M là em ruột bà Sổ), không phải là những người thừa kế theo pháp luật của S, đã lập Văn bản phân chia thừa kế, có chứng thực của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã (nay là phường) HT ngày 26/7/2012, giao thửa đất số 315B cho ông B được quyền sử dụng. Sau đó ông B lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất, có chứng thực của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã (nay là phường) HT ngày 19/9/2015, chuyển nhượng toàn bộ quyền sử dụng thửa đất số 315B cho ông Huỳnh Tr1 là không đúng theo quy định của pháp luật.

Do đó bà N1 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết, tuyên bố Văn bản phân chia thừa kế ngày 26/7/2012 và Hợp đồng chuyển nhượng quyển sử dụng đất ngày 19/9/2015 nói trên vô hiệu và giao quyền sử dụng thửa đất số 315B cho bà N1 được thừa kế sử dụng.

- Bị đơn:

Ông Cao Văn B trình bày: Thửa đất số 315B nói trên đã được Uỷ ban nhân dân huyện (nay là thị xã) HN cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 01664.QSDĐ/A10 ngày 14/12/1997 cho hộ bà Dương Thị S1, nhưng do nhầm lẫn nên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lại ghi là Cao Thị S1, ghi họ của ông Cao Văn M chồng bà Dương Thị S1. Ông Cao Văn M chết năm 1991, bà Dương Thị S1 chết năm 2002 đều không để lại di chúc. Cha, mẹ của ông M đều chết trước ông M. Cha, mẹ của bà S1 đều chết trước bà S1. Ông Mẹo và bà S1 có chung 04 người con là bà Tr, bà Ph, ông H, ông B. Năm 2012 bà Tr, bà Ph, ông H, ông B đã lập Văn bản phân chia thừa kế được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã (nay là phường) HT chứng thực ngày 26/7/2012, chuyển toàn bộ quyền sử dụng thửa đất số 315B cho B và đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện (nay là thị xã) HN xác nhận đăng ký biến động ngày 16/12/2012. Năm 2015 ông B đã lập Hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ quyền sử dụng thửa đất số 315B, có chứng thực của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã (nay là phường) HT ngày 19/9/2015 cho ông Huỳnh Tr1 và đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện (nay là thị xã) HN xác nhận đăng ký biến động ngày 30/9/2015. Còn mẹ của bà N1 là bà Cao Thị S chứ không phải là Cao Thị S1 (bà S là chị ruột của ông M), bà S không ở tại phường HT, thị xã HN, tỉnh BĐ nên không được cấp đất. Do đó ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà N1.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+ Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường HT vắng mặt tại phiên toà, nhưng trong quá trình tố tụng đã khai: Thửa đất số 315B, tờ bản đồ số 05, diện tích 544m2 đất màu tại khu phố Mỹ An 1, phường HT, thị xã HN, tỉnh BĐ, được cân đối giao quyền cho hộ bà Cao Thị S, nhưng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 01664-QSDĐ/A10 ngày 14/12/1997 ghi hộ bà Cao Thị S1 là có sai sót và do bà Cao Thị S không quản lý, sử dụng thửa đất số 315B, cho nên dẫn đến nhầm lẫn ông B được nhận di sản theo Văn bản phân chia thừa kế, có chứng thực của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã (nay là phường) HT ngày 26/7/2012, rồi sau đó ông B lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất, có chứng thực của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã (nay là phường) HT ngày 19/9/2015, chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 315B cho ông Huỳnh Tr1. Nay phát sinh tranh chấp giữa bà N1 và ông B, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

+ Bà Tạ Thị Li là người đại diện theo ủy quyền của bà Phan Thị N2 trình bày: Đồng ý như trình bày và yêu cầu của nguyên đơn.

+ Ông Cao Văn B là người đại diện theo ủy quyền của bà Cao Thị Thúy Phương, bà Cao Thị Tr, ông Cao Văn Hòa trình bày: Ông và bà Phương, bà Tr, ông Hòa là các anh chị em ruột. Nguồn gốc thửa đất số 315B là của ông bà nội chúng tôi, còn bà N1 là cháu ngoại, từ nhỏ đến lớn chúng tôi chỉ biết cha mẹ chúng tôi là người canh tác. Sau khi cha mẹ chúng tôi chết thì các anh chị em chúng tôi thống nhất giao thửa đất trên cho ông Bé được quyền sử dụng. Năm 2015 ông B đã chuyển nhượng thửa đất cho ông Huỳnh Tr1 với giá 45.000.000đ (Bốn mươi lăm triệu đồng). Nay bà N1 khởi kiện yêu cầu được thừa kế theo pháp luật, nhận sử dụng thửa đất số 315B. Bà Phương, bà Tr, ông Hoà yêu cầu Toà án giải quyết ông Bé phải thương lượng giao lại cho bà N1 70.000.000đ (Bảy chục triệu đồng) là xong.

+ Ông Huỳnh Tr1 trình bày: Năm 2015 ông nhận chuyển nhượng của ông B quyền sử dụng thửa đất số 315B, tờ bản đồ số 05, diện tích 544m2 đất màu tại khu phố Mỹ An 1, phường HT, thị xã HN, tỉnh BĐ với giá 45.000.000đ (Bốn mươi lăm triệu đồng) và đã được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện (nay là thị xã) HN xác nhận đăng ký biến động ngày 30/9/2015. Hiện tại thửa đất số 315B ông đang quản lý sử dụng, không có chuyển nhượng cho ai. Nay xảy ra tranh chấp ông yêu cầu Tòa án giải quyết quyền sử dụng thửa đất số 315B nói trên là của ông, nếu không thì ông B phải trả lại cho ông giá trị của thửa đất với số tiền là 600.000.000đ (Sáu trăm triệu đồng).

+ Bà Trần Thị Th1 vắng mặt tại phiên toà nhưng trong quá trình tố tụng bà Th1 khai: Cha, mẹ của bà là ông Trần O (chết năm 1941 lúc bà 02 tuổi) và bà Cao Thị S (chết năm 1999). Cha mẹ của bà có chung 01 người con là bà Trần Thị Th1. Sau khi ông O chết, bà S có chồng khác là ông Phan B1, có thêm 02 người con là bà Phan Thị N2 và bà Phan Thị N1. Sau khi ông B1 chết, bà S có chồng lần thứ ba là ông Võ S2, có thêm 01 người con là bà Võ Thị Ngh, ông Võ S2 đã chết (chết trước bà S). Quyền sử dụng thửa đất số 315B nói trên là tài sản của bà S chết để lại. Bà đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà N1 về việc chia thừa kế theo pháp luật. Phần tài sản bà được chia, bà đồng ý tặng cho bà N1 được quyền sử dụng.

Tại phiên toà hôm nay bà Tạ Thị Li là người đại diện theo uỷ quyền của bà Th1 trình bày: Đồng ý như lời khai trên của bà Th1.

+ Bà Võ Thị Ngh vắng mặt tại phiên toà nhưng trong quá trình tố tụng bà Ngh khai: Mẹ của bà là bà Cao Thị S (chết năm 1999). Trước đây bà S có chồng là ông Trần O và có 01 người con chung với ông O là bà Trần Thị Th1. Sau ông O chết, bà S có chồng khác là ông Phan B1 và có thêm 02 người con là bà Phan Thị N2và bà Phan Thị N1. Sau khi ông B1 chết bà S có chồng lần thứ ba là ông Võ S2 và có thêm 01 người con là bà Võ Thị Ngh. Ông Võ S2 là cha ruột của bà, đã chết cách đây khoảng 35 năm trước năm 1993. Quyền sử dụng thửa đất số 315B nói trên là tài sản của bà S chết để lại. Bà đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà N1 về chia thừa kế theo pháp luật. Đối với phần tài sản được chia, bà đồng ý tặng cho bà N1được quyền sử dụng.

Tại phiên toà hôm nay bà Tạ Thị Li là người đại diện theo uỷ quyền của bà Ngh trình bày: Đồng ý như lời khai trên của bà Ngh.

Kiểm sát viên tham gia phiên toà phát biểu: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình tố tụng kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật, tuy nhiên về thời hạn xét xử còn chậm và đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuyên bố Văn bản phân chia tài sản thừa kế ngày 26/12/2012 do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã (nay là phường) HT, chứng thực có số 141, quyền số 01PT/CC-SCT/HĐGD vô hiệu. Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 19/9/2015 do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã (nay là phường) HT, chứng thực có số 136, quyền số 02 TP/CC-SCT/HĐGD vô hiệu. Áp dụng Điều 137, 138 Bộ luật Dân sự 2005 giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Bà N1 được nhận di sản là quyền sử dụng thửa đất số 315B. Bà N1 phải thối giá trị cây trồng trên đất cho ông Tr1 theo Biên bản định giá tài sản ngày 14/4/2022 và thối giá trị công sức bảo quản tôn tạo thửa đất số 315B cho ông B. Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí định giá: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1] Đây là vụ án: “Tranh chấp Li quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu và thừa kế theo pháp luật”, theo quy định tại khoản 5 và 11 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tài sản tranh chấp là quyền sử dụng thửa đất số 315B, tờ bản đồ số 05, diện tích 544m2 đất màu tại khu phố Mỹ An 1, phường HT, thị xã HN, tỉnh BĐ. Do đó Tòa án nhân dân thị xã HN thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Th có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt, vì bận công tác. Theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt.

Về nội dung:

Sự kiện pháp lý xảy ra ngày 26/12/2012 và ngày 19/9/2015, vì vậy cần áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2005 để giải quyết vụ án là phù hợp với điểm c khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự 2015.

Tài sản tranh chấp trong vụ án là quyền sử dụng thửa đất số 315B, tờ bản đồ số 05, diện tích 544m2 đất màu tại khu phố Mỹ An 1, phường HT, thị xã HN, tỉnh BĐ.

Theo đo đạc và định giá ngày 14/4/2022 như sau:

- Về diện tích: Thửa đất 315B có diện tích thực tế 590,8m2, so với diện tích giao quyền tăng 46,8m2, sự chênh lệch này đã được xác minh là do đo đạc.

- Về giá: Theo giá của Hội đồng định giá thì quyền sử dụng thửa đất số 315B, có giá thị trường là 330.000.000đ (Ba trăm ba chục triệu đồng). Ông Trí không đồng ý với giá 330.000.000đ của Hội đồng định giá đã định và tự đưa ra giá là 600.000.000đ (Sáu trăm triệu đồng). Bà Li là người đại theo uỷ quyền của bà N1, bà Nên, bà Th1, bà Ngh; ông B là đại theo uỷ quyền của ông H, bà Ph, bà Tr và là bị đơn trong vụ án, thống nhất toàn bộ thửa đất số 315B có giá 330.000.000đ như Hội đồng định giá đã định và không yêu cầu phải định giá lại.

- Về công sức bảo quản, tôn tạo thửa đất số 315B: Từ trước cho đến khi chuyển nhượng cho ông Tr1, thửa đất 315B do ông B là người quản lý sử dụng, cho N2ông B có công sức đóng góp trong việc quản lý, duy trì và phát triển thửa đất. Nhưng trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà hôm nay, các bên đương sự không tự thoả thuận giải quyết được và cũng không cung cấp được chứng từ nào cho Toà án để làm chứng cứ, chứng minh về công sức đóng góp của ông B. Do đó Hội đồng xét xử giải quyết phần công sức đóng góp của ông B trong việc quản lý, duy trì và phát triển thửa đất có giá là 1/10 giá trị thửa đất, tương ứng với số tiền là: (330.000.000đ : 10) = 33.000.000đ.

Như vậy: Về giá trị của thửa đất số 315B, trong đó: Phần của ông B có giá 33.000.000đ và phần của bà Cao Thị S có giá 297.000đ.

Tài sản của ông Tr1 gắn liền với thửa đất số 315B, gồm có: 03 cây dừa ta cho quả bình thường có giá: (03 cây x 945.000đ) = 2.835.000đ; 06 cây dừa xiêm dưới 1m có giá: (06 x 250.000đ) = 1.500.000đ; 15 cây bơ có đường kính gốc nhỏ hơn 20cm có giá: (15 x 225.000đ) = 3.375.000đ; 02 cây mít có quả lần đầu có giá: (02 x 250.000đ) = 500.000đ; 18 cây mít cao dưới 1m chưa có quả có giá: (18 x 80.000đ) = 1.440.000đ. Tổng cộng có giá: 9.650.000đ.

Về yêu cầu Tuyên bố Văn bản phân chia tài sản thừa kế ngày 26/7/2012 vô hiệu:

Theo Biên bản hòa giải ngày 06/9/2019 và Biên bản làm việc ngày 15/02/2022 tại Uỷ ban nhân dân xã (nay là phường) HT và theo Công văn số: 1050/UBND-TNMT ngày 02/7/2021 của Uỷ ban nhân dân thị xã HN thì thửa đất 315B nói trên được cân đối giao quyền và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 01664-QSDĐ/A10 ngày 14/12/1997 cho hộ bà Cao Thị S (hộ có 01 nhân khẩu), nhưng do thiếu sót nên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi là hộ bà Cao Thị S1. Từ những tình tiết và chứng cứ nêu trên, rõ ràng quyền sử dụng thửa đất số 315B là tài sản hợp pháp của bà Cao Thị S.

Các ông bà Cao Thị Tr, Cao Thị Thuý Ph, Cao Văn B, Cao Văn H (là các con của ông M em ruột bà S), không phải là những người được thừa kế theo pháp luật đối với di sản của bà S để lại. Do đó việc họ lập Văn bản phân chia tài sản thừa kế ngày 26/7/2012, chuyển giao quyền sử dụng đối với thửa đất số 315B cho ông B là trái với quy định tại các Điều 195, 245 và điểm a khoản 1 Điều 676 Bộ luật Dân sự năm 2005.

Từ những chứng cứ và phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận chấp yêu cầu của nguyên đơn. Tuyên bố Văn bản phân chia tài sản thừa kế giữa bà Cao Thị Tr, bà Cao Thị Thuý Ph, ông Cao Văn B, ông Cao Văn H, chứng thực số 141, quyền số 01 TP/CC-SCT/HĐGD ngày 26/7/2012 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã (nay là phường) HT, đối với thửa đất 315B, tờ bản đồ số 05, diện tích 544m2 đất màu tại khu phố Mỹ An 1, phường HT, thị xã HN, tỉnh BĐ vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, là có căn cứ và đúng theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 122, Điều 127, 128 Bộ luật Dân sự năm 2005.

Về yêu cầu Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 19/9/2015 vô hiệu:

Theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 19/9/2015, ông Cao Văn B đã chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 315B cho ông Huỳnh Tr1, có chứng thực của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã (nay là phường) HT và đã được Văn phòng đăng ký đất đai huyện HN (nay là Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh BĐ - Chi nhánh thị xã HN) xác nhận đăng ký biến động ngày 30/9/2015, chuyển quyền sử dụng toàn phần diện tích tại thửa đất 315B cho ông Tr1 .

Ông Tr1 nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 315B từ giao dịch với ông B, không phải thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Cao Văn B và ông Huỳnh Tr1, chứng thực số 136, quyển số 02 TP/CC-SCT/HĐGD ngày 19/9/2015 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã (nay là phường) HT, đối với thửa đất 315B, tờ bản đồ số 05, diện tích 544m2 đất màu tại khu phố Mỹ An 1, phường HT, thị xã HN, tỉnh BĐ vô hiệu, là có căn cứ và đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 138 Bộ luật Dân sự năm 2005.

Về thừa kế: Bà Cao Thị S (chết măm 1999) không để lại di chúc. Cha mẹ của bà S đều chết trước bà S. Bà Sổ có 03 đời chồng:

Người chồng đầu tiên là ông Trần O (chết năm 1941), bà S và ông O có chung 01 người con là bà Trần Thị Th1.

Người chồng thứ hai là ông Phan B1 (chết năm 1954), bà Sổ và ông B1 có chung 02 người con là bà Phan Thị N2 và bà Phan Thị N1.

Người chồng thứ ba là ông Võ S2 (chết trước năm 1993), bà S và ông S2 có chung 01 người con là bà Võ Thị Ngh.

Theo qui định tại Điều 674, 675, điểm a khoản 1 Điều 676 Bộ luật Dân sự 2005 thì bà Th1, bà N2, bà N1, bà Ngh là những người được thừa kế theo pháp luật đối với di sản của bà Sổ để lại và theo các lời khai của bà N, bà Th1, bà Ngh và người đại diện theo uỷ quyền của họ đều thống nhất giao toàn bộ di sản của bà S để lại cho bà N1 được quyền sở hữu, sử dụng. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Giao cho bà N1 được quyền sử dụng thửa đất 315B, tờ bản đồ số 05, diện tích 544m2 đất màu tại khu phố MA1, phường HT, thị xã HN, tỉnh BĐ và bà N1 phải thối trả lại cho ông B là 33.000.000đ. Đồng thời giao cho bà N1 được quyền sở hữu các tài sản gắn liền với thửa đất số 315B, gồm: 03 cây dừa ta, 06 cây dừa xiêm, 15 cây bơ, 20 cây mít và bà N1 phải thối trả lại cho ông Tr1 9.650.000đ.

Về bồi thường thiệt hại:

Về giá trị thiệt hại: Là sự chênh lệch giá của thửa đất tại thời điểm chuyển nhượng và hiện tại. Tại Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 19/9/2015, thửa đất có giá chuyển nhượng là 5.000.000 đồng, nhưng ông B và ông Tr1 đều thống nhất thực tế giá chuyển nhượng là 45.000.000 đồng. Như vậy giá trị thiệt hại sẽ là: (330.000.000đ – 45.000.000đ) = 285.000.000đ.

Về lỗi:

Đối với Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 19/9/2015 vô hiệu:

Về phía ông Tr1 là người nhận chuyển nhượng ngay tình.

Về phía ông B do trước đây có nhầm lẫn quyền sử dụng thửa đất số 315B là của hộ gia đình ông, nên dẫn đến việc khai nhận di sản không đúng là một phần lỗi do khách quan. Do đó Hội đồng xét xử giải quyết chỉ bồi thường cho ông Tr1 là 2/3 giá trị thiệt hại, tương ứng với số tiền (285.000.000đ x 2/3) = 190.000.000đ, là có căn cứ và đúng theo quy định tại Điều 137 Bộ luật Dân sự năm 2005.

Đối với Văn bản phân chia tài sản thừa kế ngày 26/7/2012 vô hiệu:

Về phía ông B: Do nhầm lẫn việc sử dụng đất và bà Dương Thị S1 (mẹ của ông) là người cất giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên dẫn đến kê khai nhận di sản là không đúng.

Về phía bà S: Do từ trước đến nay bà S không quản lý sử dụng đất và cũng không nhận cất giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 315B, đây cũng là một phần nguyên nhân dẫn đến ông B có sự nhầm lẫn kê khai nhận di sản.

Như vậy: Ông B và bà S đều có lỗi và xét thấy lỗi của cả hai bên là tương đương với nhau, cho nên mỗi bên phải chịu 50% để bồi thường thiệt hại cho ông Tr1, tương ứng với số tiền (190.000.000đ x 50%) = 95.000.000đ, là có căn cứ và đúng theo quy định tại Điều 137 Bộ luật Dân sự năm 2005.

Về chi phí định giá: Hết 2.000.000đ. Bà N1 và ông B mỗi người phải chịu 1.000.000đ. Bà N1 đã nộp đủ và chi phí xong, do đó ông B phải hoàn trả lại cho bà N1 1.000.000đ (Một triệu đồng) là đúng với qui định tại khoản 1 Điều 165, Điều 166 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà N1 là người cao tuổi nên được miễn, là đúng với qui định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Ông B phải chịu 7.000.000đ sung vào công quỹ nhà nước, là đúng với qui định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Phát biểu ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã HN tham gia phiên tòa về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 5 và 11 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 165, Điều 166, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm c khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự 2015; điểm b khoản 1 Điều 122, Điều 127, 128, 137, 138, 195, 245, 674, 675, điểm a khoản 1 Điều 676 Bộ luật Dân sự 2005; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/ 2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

1.1. Tuyên bố Văn bản phân chia tài sản thừa kế giữa bà Cao Thị Tr, bà Cao Thị Thuý Ph, ông Cao Văn B, ông Cao Văn H, chứng thực số 141, quyền số 01 PT/CC-SCT/HĐGD ngày 26/7/2012 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã (nay là phường) HT, đối với thửa đất 315B, tờ bản đồ số 05, diện tích 544m2 đất màu tại khu phố Mỹ An 1, phường HT, thị xã HN, tỉnh BĐ vô hiệu.

1.2. Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Cao Văn B và ông Huỳnh Tr1, chứng thực số 136, quyển số 02 TP/CC-SCT/HĐGD ngày 19/9/2015 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã (nay là phường) HT, đối với thửa đất 315B, tờ bản đồ số 05, diện tích 544m2 đất màu tại khu phố Mỹ An 1, phường HT, thị xã HN, tỉnh BĐ vô hiệu.

2. Về hậu quả của hợp đồng vô hiệu:

2.1. Buộc ông Huỳnh Tr1 phải giao trả lại thửa đất 315B, tờ bản đồ số 05, diện tích 544m2 đất màu tại khu phố Mỹ An 1, phường HT, thị xã HN, tỉnh BĐ cho bà Phan Thị N1 được quyền sử dụng.

2.2 Giao cho bà Phan Thị N1 được quyền sở hữu các tài sản gắn liền với thửa đất số 315B, gồm: 03 cây dừa ta, 06 cây dừa xiêm, 15 cây bơ, 20 cây mít và buộc bà Phan Thị N1 phải thối trả lại cho ông Huỳnh Tr1 9.650.000đ (Chín triệu sáu trăm năm mươi ngàn đồng).

2.3. Buộc bà Phan Thị N1 phải trả lại giá trị cho ông Bé 33.000.000đ (Ba mười ba triệu đồng).

2.2. Buộc bà Phan Thị N1 phải bồi thường thiệt hại cho ông Huỳnh Tr1 95.000.000đ (Chín mươi lăm triệu đồng).

2.3. Buộc ông Cao Văn Bé phải trả lại cho ông Huỳnh Tr1 45.000.000đ (Bốn mươi lăm triệu đồng) và phải bồi thường thiệt hại cho ông Huỳnh Tr1 95.000.000đ (Chín mươi lăm triệu đồng). Tổng cộng là 140.000.000đ (Một trăm bốn mươi triệu đồng).

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Phan Thị N1 là người cao tuổi nên được miễn phải chịu.

Ông Cao Văn B phải chịu 7.000.000đ (Bảy triệu đồng) sung vào công quỹ nhà nước.

4. Về chi phí định giá tài sản: Hết 2.000.000 đồng. Bà Phan Thị N1 và ông Cao Văn B mỗi người phải chịu 1.000.000đ, bà Phan Thị N1 đã nộp đủ và chi phí xong, do đó ông Cao Văn B phải hoàn trả lại cho bà Phan Thị N1 1.000.000đ (Một triệu đồng).

5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết tại Uỷ ban nhân dân câp xã nơi cư trú để Toà án nhân dân tỉnh BĐ xét xử theo trình tự phúc thẩm.

6. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:

6.1 Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

6.2 Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ