- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng TMCP PĐ - Trần Kim G"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần PĐ.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU —————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 209/2023/DS-ST Ngày 31 - 8 - 2023 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Minh Thịnh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Châu Trung Trực
Ông Tạ Thanh Bự
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Diễm My là Thư ký Toà án nhân dân huyện Đầm Dơi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi tham gia phiên toà: Ông Huỳnh Trung Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 385/2023/TLST-DS ngày 22 tháng 6 năm 2023 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 257/2023/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần PĐg; địa chỉ trụ sở: Số 41 & 45, đường LD, phường BN, q 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trịnh Văn T – Chủ tịch Hội đồng quản trị là người đại diện theo pháp luật.
Người đại diện hợp pháp của ông T: Bà Lê Thị Thùy T1 – Giám đốc Phòng giao dịch Đầm Dơi là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền số 16/20231/UQ-CT.HĐQT ngày 14/3/2023).
Người đại diện hợp pháp của bà T1: Anh Lý Hùng A, sinh năm 1986 – Chuyên viên cao cấp thu hồi nợ là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 09/6/2023) (có mặt).
- Bị đơn: Chị Trần Kim G, sinh năm 1971; địa chỉ cư trú: Ấp BS, xã TD, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Huỳnh Tấn L; địa chỉ cư trú: Ấp NC, xã QPB, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ngày 10/9/2022, Ngân hàng TMCP PĐ với chị G đã ký kết hợp đồng tín dụng số 0651/2022/HĐTD-OCB-CN và Khế ước nhận nợ số 0651.03/2023/KƯNN-OCB-CN cùng ngày 21/3/2023.
Số tiền vay: 1.500.000.000đ.
Thời hạn vay: 06 tháng kể từ ngày tiếp theo ngày giải ngân đầu tiên. Ngày đến hạn trả nợ cuối cùng ngày 21/9/2023.
Lãi suất vay: Trong 03 tháng đầu tiên 115%/năm. Từ tháng thứ 04 trở đi áp dụng lãi suất cho vay điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần (sau đây gọi là kỳ điều chỉnh lãi suất). Kỳ điều chỉnh lãi đầu tiên vào ngày 21/6/2023 theo công thức tính lãi suất như sau:
Lãi suất cho vay (điều chỉnh) = Lãi suất tham chiếu (i) + Biên độ tối thiểu (ii).
Trong đó:
(i) Lãi suất tham chiếu lãi: là lãi suất cơ sở kỳ hạn 13 tháng theo biểu lãi suất được OCB ban hành từng thời kỳ.
Biên độ tối thiểu 3,0%/.
Biên độ tối thiểu sẽ được cộng thêm (+) 2%/năm (được gọi là Biên độ tăng thêm) khi xảy ra một trong các sự kiện sau:
Lãi suất quá hạn: bằng 150 lãi suất vay trong hạn.
Mục đích vay: Bổ sung vốn lưu động kinh doanh mua gạo các loại.
Phương thức vay: Hạn mức.
Trả nợ gốc: Cuối kỳ.
Trả nợ lãi: Bên vay trả tiền lãi vay cho OCB theo định kỳ 01 tháng/lần vào ngày 10 của tháng theo dư nợ thực tế (sau đây gọi là kỳ trả nợ lãi). Kỳ trả lãi đầu tiên vào ngày 10/4/2023.
Ngày 07/11/2022, Ngân hàng PĐ và chị G ký kết giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở, sử dụng thẻ tín dụng, tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và đăng ký dịch vụ dành cho khách hàng cá nhân số 0712/2022/TTD-CM với hạn mức sử dụng là 50.000.000đ.
Tài sản đảm bảo cho các khoản vay gồm: Quyền sử dụng đất tại ấp Nhà Cũ, xã Quách Phẩm Bắc, huyện Đầm Dơi theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 420988 và CM 420989 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Cà Mau cấp cho anh Đặng Ngọc T2 và chị Trần Diễm M ngày 09/8/2018.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, chị G đã thanh toán cho Ngân hàng:
Nợ gốc: 0 đồng.
Nợ lãi: 181.474 đồng.
Tổng nợ tạm tính đến ngày 09/6/2023 là 1.574.598.203đ, trong đó: Nợ gốc 1.500.000.000đ, lãi trong hạn 22.421.266đ, lãi quá hạn 257.081đ, tống nợ 1.522.678.347đ.
Thẻ tín dụng: Nợ gốc 48.213.487đ, lãi trong hạn 3.506.369đ, lãi quá hạn 200.000đ, tổng nợ 51.919.856đ.
Tổng các khoản nợ: 1.574.598.203đ.
Nay ngân hàng TMCP PĐ yêu cầu chị G trả số tiền nợ là 1.574.598.203đ và tiền lãi, phí phát sinh theo các hợp đồng tín dụng kể từ ngày 10/6/2023 cho đến khi chị Gấmg hoàn thành nghĩa vụ trả nợ vay.
Trường hợp chị G không thực hiện hoặc thực hiện không đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng.
Đối với chị Trần Kim G, ông Huỳnh Tấn L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng không có ý kiến về nội dung, yêu cầu khởi kiện của ngân hàng.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Ngân hàng Thương mại Cổ phần PĐ yêu cầu chị G trả số tiền vốn 1.548.513.487đ, lãi trong hạn 77.283.851đ, lãi quá hạn 2.173.843, tổng cộng 1.627.971.181đ; lãi phát sinh và xử lý tài sản đảm bảo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự là đúng với trình tự, thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 91; khoản 2 Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng; Án lệ số 08; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP PĐ, buộc chị G trả cho ngân hàng tổng số tiền vốn 1.548.513.487đ, lãi trong hạn 77.283.851đ, lãi quá hạn 2.173.843, tổng cộng 1.627.971.181đ.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử điều chỉnh lãi suất trong hợp đồng tín dụng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm và cho phép Ngân hàng PĐ được quyền yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo khoản tiền vay để thu hồi nợ, nếu trường hợp chị G không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng.
Chi phí xem xét tại chỗ và án phí dân sự sơ thẩm các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng Thương mại Cổ phần PĐ khởi kiện yêu cầu Trần Kim G trả tiền vốn, lãi theo hợp đồng tín dụng là vụ kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng, do đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về tố tụng: Chị G, ông L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.
Đối với anh Đặng Ngọc T2, chị Trần Diễm M trong quá trình giải quyết nhận thấy phần đất thế chấp do anh chị đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, anh T2 và chị M đã chuyển nhượng phần đất cho chị G và đã chỉnh lý trang tư Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Như vậy, việc giải quyết vụ án không ảnh hưởng đến quyền lợi của anh chị nên Tòa án không tiếp tục đưa anh chị vào tham gia tố tụng trong vụ án.
Đối với ông Huỳnh Tấn L, theo biên bản xem xét tại chỗ không thể hiện ông L quản lý sử dụng phần đất. Tuy nhiên, theo đại diện ngân hàng trình bày phần đất chị G hiện ông L đang quản lý sử dụng. Do đó, việc giải quyết vụ án có ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của ông L nên Hội đồng xét xử đưa ông L vào tham gia với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Xét yêu cầu khởi kiện, Hội đồng xét xử nhận thấy: Chị G có ký kết hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ và giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở, sử dụng thẻ tín dụng, tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và đăng ký dịch vụ dành cho khách hàng cá nhân với Ngân hàng TMCP PĐ để vay số tiền 1.500.000.000đ và hạn mức sử dụng thẻ là 50.000.000đ. Để đảm bảo cho các khoản vay, chị G có ký kết tiếp hợp đồng thế chấp tài sản đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 420988 và CM 420989 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Cà Mau cấp cho anh Đặng Ngọc T2 và chị Trần Diễm M ngày 09/8/2018 (đã được chỉnh lý trang tư cho chị G) để đảm bảo cho khoản vay với Ngân hàng PĐ là thực tế có xãy ra.
Xét hợp đồng tín dụng, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hợp đồng giữa các bên ký kết là hợp pháp cả về lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn và lãi suất chậm trả, vì theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 quy định “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Do vậy việc thỏa thuận giữa Ngân hàng và chị G về mức lãi suất trên là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật. Tính đến ngày xét xử 31/8/2023 chị G còn nợ Ngân hàng Phương Đông số tiền vốn 1.548.513.487đ, lãi trong hạn 77.283.851đ, lãi quá hạn 2.173.843, tổng cộng 1.627.971.181đ. Như vậy, việc chị G không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng đã làm thiệt hại đến quyền lợi của ngân hàng, vi phạm hợp đồng tín dụng đã ký kết. Do đó, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng PĐ là có căn cứ nên được chấp nhận.
Đối với chị G và ông L: Mặc dù các đương sự đã biết được nội dung khởi kiện của Ngân hàng TMCP PĐ, nhưng các đương sự không phản đối bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP PĐ thuộc trường hợp tình tiết, sự kiện không phải chứng minh được quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu của Ngân hàng TMCP PĐ về việc điều chỉnh lãi suất trong hợp đồng tín dụng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm là phù hợp với nội dung của Án lệ số 08/2016/AL nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét yêu cầu của Ngân hàng TMCP PĐ về việc thanh lý tài sản đảm bảo trong trường hợp chị G không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thấy rằng: Theo khoản 2 Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng quy định “Trong trường hợp khách hàng không trả được nợ đến hạn, nếu các bên không có thỏa thuận khác thì tổ chức tín dụng có quyền xử lý nợ, tài sản đảm bảo tiền vay theo hợp đồng tín dụng, hợp đồng đảm bảo và quy định của pháp luật”. Do đó, yêu cầu của Ngân hàng TMCP PĐ là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi tham gia phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng: Chị G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và chi phí xem xét tại chỗ theo quy định của pháp luật hiện hành.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 2 Điều 91; khoản 2 Điều 92; Điều 147 và khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 91; khoản 2 Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010; Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 10 tháng 07 năm 2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17 tháng 10 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần PĐ.
1. Buộc chị Trần Kim G phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần PĐ số tiền là 1.627.971.181 đồng (một tỷ sáu trăm hai mươi bẩy triệu chín trăm bẩy mươi mốt ngàn một trăm tám mươi mốt đồng).
2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
3. Trong trường hợp chị Trần Km G không trả nợ hoặc trả không đủ số tiền còn nợ của Hợp đồng tín dụng, thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần PĐ có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 420988 và CM 420989 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Cà Mau cấp cho anh Đặng Ngọc T2 và chị Trần Diễm M ngày 09/8/2018 (đã được chỉnh lý trang tư cho chị G) để thu hồi nợ.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
4.1. Ngân hàng Thương mại Cổ phần PĐ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho Ngân hàng PĐ 29.619.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0014300 ngày 22 tháng 6 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi.
4.2. Chị Trần Kim G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là 60.839.000 đồng.
5. Về chi phí tố tụng: Chị Trần Kim G phải chịu chi phí xem xét tại chỗ là 300.000 đồng. Buộc chị Trần Kim G phải có nghĩa vụ nộp số tiền 300.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi để hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần PĐ.
6. Kể từ ngày Ngân hàng Thương mại Cổ phần PĐ có đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền chi phí xem xét tại chỗ, nếu chị Trần Kim G chậm thi hành khoản tiền nêu trên, thì hàng tháng chị G còn phải chịu thêm khoản lãi suất chậm thi hành theo mức lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng số tiền và thời gian chậm thi hành.
7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
8. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trƣơng Minh Thịnh |