- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn G (MBTPCMT) - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn G phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HÓA Bản án số: 209/2022/HS-ST Ngày: 07/7/2022. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga
Các hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Thưởng
2. Bà Nguyễn Thị Minh Thảo
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hiến - Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Quỳnh Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 7 năm 2022, tại Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 228/2022/ HSST ngày 07 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 229/2022/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 6 năm 2022 đối với:
Bị cáo Nguyễn Văn G ; Sinh năm: 2000;
Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Số nhà ... DT, phường NN, thành phố TH, tỉnh TH
Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Văn L , sinh năm 1969 và bà Lê Thị H , sinh năm: 1973; Gia đình có 02 anh em, bị can là con thứ 2; Vợ, con: chưa
Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 19/4/2019 bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt ngày 29/4/2021.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 22/3/2022, chuyển tạm giam ngày 28/3/2022, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an TP. Thanh Hóa. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 21 giờ 45 phút ngày 22/3/2022, tổ công tác đội CSĐT tội phạm về ma túy Công an thành phố Thanh Hóa làm nhiệm vụ tại khu vực đường Lê Phụ Trần, phường Nam Ngạn, TP.Thanh Hóa phát hiện Nguyễn Văn G có biểu hiện nghi vấn về ma túy nên yêu cầu kiểm tra. Khi kiểm tra G đã thả một túi nilon màu trắng viền đỏ đang cầm ở tay phải xuống mặt đường cạnh chân G . Khi tổ công tác yêu cầu, G đã nhặt túi ma túy trên lên và giao nộp cho tổ công tác, đồng thời khai nhận trong túi nilon có chứa 03 viên thuốc lắc và một túi Ketamin G cất giấu nhằm mục đích bán kiếm lời. Tổ công tác đã lập biên bản, thu giữ vật chứng niêm phong gửi giám định theo quy định
Tại Cơ quan điều tra G khai: Do nghiện ma túy và muốn có tiền tiêu nên khoảng 20 giờ ngày 18/3/2022, G một mình đến khu vực Trường thể dục thể thao (thuộc phường ngọc Trạo, TP,Thanh Hóa) tìm mua ma túy để bán kiếm lời. Tại đây G đã mua được 03 viên thuốc lắc với số tiền 750.000đ và 01 túi Ketamin với số tiền 1.300.000đ của một nam thanh niên khoảng 26 tuổi G không biết họ tên, địa chỉ. Sau khi mua được số ma túy trên G cất giấu trong người. Đến khoảng 21 giờ 45 phút ngày 22/3/2022 G mang theo số ma túy trên đến khu vực đường Lê Phụ Trần, phường Nam Ngạn, TP.Thanh Hóa để có ai mua ma túy thì bán kiếm lời với giá 300.000đ/viên thuốc lắc và 1.500.000đ/ túi Ketamin. Tuy nhiên G chưa kịp bán thì bị Công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang
Cơ quan điều tra cũng đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của G (số nhà 409A Duy Tân, phường Nam Ngạn, TP.Thanh Hóa) nhưng không phát hiện đồ vật, tài liệu gì liên quan đến ma túy.
Tại bản kết luận giám định số 1173/KL-KTHS ngày 25/3/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: 03 viên nén màu hồng của phong bì niêm phong gửi giám định có tổng khối lượng 1,260g. Phòng Kỹ thuật hình sự từ chối giám định do không có đủ năng lực, điều kiện cần thiết cho việc giám định.
Các hạt tinh thể màu trắng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,407g, loại Ketamin.
Cơ quan điều tra đã niêm phong 02 viên nén màu hồng hoàn lại sau giám định trong phong bì ký hiệu T2, gửi trưng cầu Viện khoa học hình sự giám định bổ sung
Tại bản kết luận giám định số 1878/KL-KTHS ngày 06/4/2022 của Viện khoa học hình sự Bộ công an kết luận: Mẫu 02 viên nén màu hồng (niêm phong ký hiệu T2) gửi giám định là ma túy, loại MDMA
Quá trình điều tra Nguyễn Văn G thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng vụ án hiện đang thu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự TP. Thanh Hóa gồm: Một phong bì ma túy niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự
- Công an tỉnh Thanh Hóa, có hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự, kèm chữ ký, chữ viết của Lê Minh Tiến, Trần Thị Thương; Và một phong bì ma túy niêm phong của Viện Khoa học hình sự Bộ công an, có hình dấu của Viện khoa học hình sự kèm chữ ký, chữ viết của Nguyễn Thị Thu Loan, Lê Trạc Dũng theo “Biên bản giao nhận vật chứng” số 128/2022/THA ngày 02/6/2022 giữa Công an thành phố Thanh Hóa và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa.
Đối với người nam giới G khai đã bán ma túy cho G , do G không biết nhân thân, địa chỉ người này, Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.
Tại Cáo trạng số 176/CTr-VKS ngày 02/6/2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Nguyễn Văn G về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự tuyên bố Nguyễn Văn G phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Xử phạt Nguyễn Văn G từ 39 đến 45 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ; không áp dụng hình phạt bổ sung dối với bị cáo; Vật chứng vụ án: áp dụng khoản 1, khoản 2 điều 106 BLTTHS, tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định; Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin được hưởng khoan hồng với mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Căn cứ hành vi, mục đích của bị cáo và kết quả giám định có đủ cơ sở kết luận: Vào 21 giờ 45 phút ngày 22/3/2022, tại khu vực đường Lê Phụ Trần, phường Nam Ngạn, TP.Thanh Hóa Nguyễn Văn G đã có hành vi cất giữ 0,407g chất ma túy, loại Ketamin và 1,260g chất ma túy, loại MDMA (tương đương 1,46g MDMA hoặc 5,854g Ketamin) nhằm mục đích bán kiếm lời. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Viện kiểm sát nhân dân TP. Thanh Hóa truy tố bị cáo Nguyễn Văn G theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất vụ án: Vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lí của Nhà nước về việc cất giữ, vận chuyển, trao đổi chất ma túy. Xâm phạm trật tự an toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân dẫn đến những hành vi phạm tội khác. Do đó cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc để đảm bảo tính răn đe giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Xét tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo do đó được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51- Bộ luật hình sự. Bị cáo đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý do đó phải chịu tình tiết tăng năng “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS. Vì vậy HĐXX xem xét để có hình phạt tương xứng, đảm bảo tính răn đe cũng như sự khoan hồng của pháp luật. Và cần cách li bị cáo ra khỏi đời sống cộng đồng xã hội một thời gian mới đủ đề giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích và để phòng ngừa chung.
Đối với người nam giới đã bán ma túy cho G , do G không biết nhân thân địa chỉ người này. Ngoài lời khai của G không có tài liệu chứng cứ nào khác nên Cơ quan điều tra không có đủ căn cứ xác minh, xử lý là đúng.
Vật chứng vụ án: Số ma túy mẫu vật còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy khi án có hiệu lực pháp luật theo quy định tại Điều 106 - BLTTHS.
Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136 BLTTHS; khoản 1 điều 21; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016; Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn G phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn G 39 (Ba chín ) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/3/2022
- Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1, điểm a, b khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Sau khi án có hiệu lực pháp luật, tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định. Vật chứng hiện đang thu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự TP. Thanh Hóa theo “Biên bản giao nhận vật chứng” số 128/2022/THA ngày 02/6/2022 giữa Công an thành phố Thanh Hóa và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 - BLTTHS; khoản 1 điều 21; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc Nguyễn Văn G phải chịu 200.000đ án phí HSST.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn G có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND thành phố Thanh Hóa; - Công an thành phố thanh Hóa; - Chi cục THADS thành phố Thanh Hóa; - TAND tỉnh Thanh Hóa; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Thị Nga |