vanban.org

Bản án 209/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 10/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 06 (sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/11/2019. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn M phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy; - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ D

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG
——————————
Bản án số: 209/2020/HS-ST
Ngày 10- 6- 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ D TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Quân;

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Bùi Thị Thúy Lan;

2. Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Trung Hiếu, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố D tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thắng Lợi, Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2020 tại Hội trường A, Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 127/2020/HSST ngày 26 tháng 3 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 198/2020/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2020, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn M, sinh năm 1991 tại tỉnh An Giang; thường trú: Ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hoá: 6/12; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Thiền Lâm; dân tộc: Kinh; con ông Nguyễn Văn T, đã chết và bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1952; có 05 anh chị em ruột, lớn nhất sinh năm 1979, nhỏ nhất sinh năm 1998; có vợ tên Phan Thị Thủy T (đã ly hôn); có 02 con ruột, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 10/11/2019, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1996; địa chỉ: ấp Đ, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hậu Giang; vắng mặt.

- Người chứng kiến: Nguyễn Thắng L; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Khoảng tối ngày 09/11/2019 Nguyễn Văn M sử dụng điện thoại di động Samsung Galyxy J8 màu đen gọi điện thoại qua mạng Zalo hỏi mua ma túy của 01 đàn ông tên T (không rõ nhân thân, lai lịch) và yêu cầu Minh nạp 2.700.000 đồng vào tài khoản Momo của Tuấn, 500.000 đồng mua thẻ nạp điện thoại. Đến khoảng 14 giờ ngày 10/11/2019, Tuấn gọi điện thoại hẹn M giao ma túy, nên M điều khiển xe mô tô biển số 95F5-8534, đi đến đoạn đường trường mầm non Sao Sáng thuộc khu phố Bình Đường 4, phường An Bình, thành phố Dĩ An, để giao dịch ma túy. Nhận được 02 gói ma túy đá M cất giấu vào túi quần bên trái phía trước mà mình đang mặc rồi điều khiển xe đi về. Khi đi đến trước số nhà Nguyễn Tri Phương, khu phố Bình Đường 4, phường An Bình, thành phố Dĩ An, bị lực lượng Công an phường A phối hợp với đội CSĐTTP về ma túy Công an thành phố D, yêu cầu dừng xe để kiểm tra, phát hiện trong túi quần bên trái phía trước của M có 02 gói nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng, M khai nhận là ma túy đá nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng.

Vật chứng thu giữ:

- 02 gói nylon miệng kéo dính bên trong chứa tinh thể màu trắng, khối lượng 7,4243 gam.

- 01 xe mô tô biển số 95F5-8534, số khung RRKWCH2UM7XE01264, số máy VTT38JL1P52FMH001264 (biển số bị gãy)

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galyxy J8 màu đen sim số 033055044.

Căn cứ bản kết luận giám định số 837/MT-PC09 ngày 14/11/2019 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương: “mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 7,4243 gam”.

Đối với tên T bán ma túy cho M do chưa rõ nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ để xử lý.

Tại cáo trạng số 164/CT–VKS ngày 25 tháng 3 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Văn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố D giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M mức án từ 06 năm đến 07 năm tù.

Xử lý vật chứng:

- Đối với xe mô tô biển số 95F5-8534, số khung RRKWCH2UM7XE01264, số máy VTT38JL1P52FMH001264 (biển số bị gãy) là xe của anh Nguyễn Văn Đ, bán lại cho người tên P (không rõ lai lịch) vào năm 2010 với giá 3.000.000 đồng. Ngày 10/11/2019, M mượn xe mô tô biển số 95F5-8534 và sử dụng vào việc phạm tội. Cơ quan Công an thành phố D đã đăng báo tìm chủ sở hữu, nhưng vẫn chưa có ai đến nhận, đề nghị tịch thu sung ngân sách nhà nước.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galyxy J8 màu đen của Minh sử dụng liên lạc mua ma túy, cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

- Đối với khối lượng ma túy còn lại sau giám định là: 7,2179 gam Methamphetamine và 01 sim số 033055044 cần tịch thu tiêu hủy.

Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, không tranh luận, đối đáp gì và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Nội dung vụ án: Vào lúc 14 giờ ngày 10/11/2019, Nguyễn Văn M có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng 7,4243 gam, loại Methamphetamine trên đường Nguyễn Tri Phương, khu phố Bình Đường 4, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương thì bị Công an phát hiện và bắt giữ.

Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 164/CT– VKS ngày 25 tháng 3 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tù tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến vai trò của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án tiền sự, nghiện ma túy.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy: 01 bì thư niêm phong ghi số vụ án 837/MT-PC09 bên trong có chứa ma túy khối lượng còn lại sau giám định là 7,2179 gam, loại Methamphetamine và 01 sim số 033055044.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô biển số 95F5-8534, số khung RRKWCH2UM7XE01264, số máy VTT38JL1P52FMH001264 (biển số bị gãy) và 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galyxy J8 màu đen.

Mức hình phạt, đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với tên T bán ma túy cho M do chưa rõ nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ để xử lý.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 06 (sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/11/2019.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy: 01 bì thư niêm phong ghi số vụ án 837/MT-PC09 bên trong có chứa ma túy khối lượng còn lại sau giám định là 7,2179 gam, loại Methamphetamine và 01 sim số 033055044.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô biển số 95F5-8534, số khung RRKWCH2UM7XE01264, số máy VTT38JL1P52FMH001264 (biển số bị gãy) và 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galyxy J8 màu đen.

(Biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/3/2020, bút lục 84).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Nguyễn Văn M phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

4. Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ