- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm A A phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm A A phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 209/2019/HS-ST Ngày: 31/10/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Lanh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Xuân Phương
Ông Nguyễn Viết Thắng
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Việt Hùng - Thẩm tra viên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 217/2019/TLST-HS ngày 11/10/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 123/2019/QĐXX-HS ngày 14/10/2019 đối với bị cáo:
Phạm A A, sinh năm 1957 - Hộ khẩu thường trú và nơi ở: Số xx, ngõ xx phố B, phường M, quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Không. Văn hóa: 04/10. Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Phạm A D (đã chết) và bà Phạm Thị N (đã chết). Tiền án, tiền sự: Theo danh, chỉ bản số 269 lập ngày 04/8/2019 của Công an quận Hai Bà Trưng và lý lịch địa phương cung cấp thì bị cáo có 03 tiền án: Năm 1992, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng xử phạt 08 tháng tù về tội Tổ chức dùng chất ma túy (đã xóa án tích); năm 1997, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng xử phạt 15 tháng tù về tội Đánh bạc; năm 2002, Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xử phạt 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, ra trại ngày 04/5/2008 (đã xóa án tích). Tiền sự: Từ năm 1976 đến năm 2009 bị xử phạt hành chính về các hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, đánh bạc, tổ chức dùng chất ma túy, đi cai nghiện bắt buộc (đã xóa). Bắt quả tang ngày 31/7/2019. Bị tạm giam tại Trại giam số 1, Công an Thành phố Hà Nội.
Bị cáo có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 20 giờ 30 phút ngày 31/7/2019, khi Tổ Công tác Công an phường Bạch Mai, quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội kiểm tra nhân hộ khẩu tại nhà số xx, ngõ xx phố B, phường M, chủ nhà là Phạm A A tự giác lấy ra từ trên ghế Salon 01 (một) vỏ bao thuốc lá SAIGON, bên trong có 02 gói giấy gồm: 01 gói kích thước (4x7)cm bên trong có 07 gói giấy kích thước (1x2)cm; và 01 gói giấy kích thước (5x7)cm bên trong có 10 gói giấy kích thước (1x2)cm, mỗi gói giấy đều chứa chất bột màu trắng. A khai là ma tuý hêrôin, mua về để sử dụng. Tổ công tác tiến hành tạm giữ, niêm phong vật chứng, rồi đưa A về trụ sở Cơ quan Công an để xác minh làm rõ.
Tại Kết luận giám định số 4924/KLGĐ-PC09 ngày 07 tháng 08 năm 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hà Nội kết luận chất bột màu trắng bên trong 17 gói giấy thu giữ của Phạm A A đều là ma túy loại hêrôin, tổng khối lượng là 0,673 gam.
Tại cơ quan điều tra, Phạm A A khai nhận:
Khoảng 17 giờ 00 ngày 31/07/2019, Phạm A A đi bộ ra khu vực ngõ Trại Giăng, đối diện Tập thể B1 Trại Găng, phường Thanh Nhàn, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội để tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, A gặp và mua của một nam thanh niên không quen biết 850.000đ ma túy hêrôin, nam thanh niên đưa cho A 01 vỏ bao thuốc lá SAIGON bên trong có 02 gói giấy chứa tổng cộng 17 gói giấy kích thước (1x2)cm chứa ma tuý hêrôin. Sau khi mua được ma túy, A cất vào túi quần trước bên phải A đang mặc rồi đi về nhà để trên ghế Salon. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, Tổ công tác Công an phường Bạch Mai thực hiện kiểm tra nhân hộ khẩu tại nhà A, A tự giác giao nộp số ma túy trên cho Tổ công tác và khai nhận là hêrôin mua về để sử dụng. Tổ công tác đã đưa A cùng tang vật về trụ sở để làm rõ.
Cơ quan Công an đã tiến hành dẫn giải, A xác định được địa điểm mua ma túy nhưng không xác định được nam thanh niên đã bán ma túy cho A nên không có căn cứ xác minh, xử lý.
Tại Cáo trạng số 219/CT-VKS-HBT ngày 10/10/2019, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng truy tố Phạm A A về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo Phạm A A khai nhận hành vi tàng trữ ma túy đúng như nội dung Cáo trạng đã thể hiện, giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, truy tố; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo theo bản Cáo trạng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo với mức hình phạt từ 24 đến 30 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền; tịch thu tiêu hủy tang vật là 0,673gam hêrôin và 01 (một) vỏ bao thuốc lá SAIGON.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hai Bà Trưng, của Điều tra viên, của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về định tội và hình phạt:
Xét lời khai của bị cáo có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng thu giữ, biên bản dẫn giải, lời khai của người làm chứng, kết luận giám định, và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ căn cứ kết luận:
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 31/7/2019, tại nơi ở của mình số xx, ngõ xx phố B, phường M, quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội, Phạm A A đã có hành vi tàng trữ 0,673gam ma tuý loại hêrôin, mục đích tàng trữ ma tuý để sử dụng.
Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình nhưng cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền kiểm soát và quản lý độc quyền đối với các chất ma túy của Nhà nước. Ma túy là chất gây nghiện, hủy hoại sức khỏe, nhân cách của người trực tiếp sử dụng, là nguyên nhân lây lan căn bệnh HIV/AIDS, là nguồn gốc phát sinh các loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác; bị Nhà nước nghiêm cấm sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán, chiếm đoạt. Hành vi của bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện Kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng kết luận về hành vi phạm tội và truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân của bị cáo: Năm 1992, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng xử phạt 08 tháng tù về tội Tổ chức dùng chất ma túy; năm 1997, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng xử phạt 15 tháng tù về tội Đánh bạc; năm 2002, Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xử phạt 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, ra trại ngày 04/5/2008; từ năm 1976 đến năm 2009 bị xử phạt hành chính về các hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, đánh bạc, tổ chức dùng chất ma túy, đi cai nghiện bắt buộc. Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xử lý hành chính, bị kết án, đã được xóa án tích, khi trở về nơi cư trú không cố gắng rèn luyện bản thân, hòa nhập cộng đồng xã hội, mà lại tiếp tục tàng trữ ma túy để sử dụng.
Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe đối với bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ. Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[3] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ vật chứng là 0,673 gam hêrôin và 01 (một) vỏ bao thuốc lá SAIGON thu giữ của bị cáo.
[4] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[5] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với người đã bán ma tuý cho bị cáo, bị cáo không biết nhân thân, lai lịch, Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý, Hội đồng xét xử không xem xét.
Từ nhận định trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Phạm A A phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt Phạm A A 27 (hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt quả tang là ngày 31/7/2019.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ vật chứng là 0,673 gam hêrôin và 01 (một) vỏ bao thuốc lá SAIGON thu giữ của bị cáo. Tang vật đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng theo Biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày 22/10/2019 (18/20) giữa Công an quận Hai Bà Trưng và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND quận Hai Bà Trưng; - Công an quận Hai Bà Trưng; - Trại Tạm giam Công an TP. Hà Nội; - Thi hành án quận Hai Bà Trưng; - UBND phường M, quận Hai Bà Trưng; - Lưu hồ sơ, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Mỹ Lanh |