vanban.org

Bản án 208/2026/HSST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Nội, TP. Hà Nội Tuyên án 21/04/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

03 (Ba) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; 02 (H1) năm tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Hữu Hoàng - mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỤC 3 - HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 208/2026/HSST
Ngày: 21/4/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ NỘI

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Hiển Vinh

Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Thị Bích Hợp

2. Bà Nguyễn Thị Xuân Phương

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Hồng Lê - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Ánh - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 4 năm 2026 tại điểm cầu trung tâm - phòng xét xử trực tuyến tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Nội và điểm cầu thành phần - phòng xét xử trực tuyến tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H, Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Nội xét xử sơ thẩm, trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 151/2026/TLST-HS ngày 24 tháng 3 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 200/2026/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 4 năm 2026 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Hữu H; Sinh năm: 1999; CCCD: 001099023565; Giới tính: Nam; Đăng ký hộ khẩu thường trú: Đội 1, Đ, xã N, thành phố Hà Nội; Nơi ở: Không nơi ở cố định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Họ tên bố: Phạm Như B, sinh năm 1973; Họ tên mẹ: Tô Thị T, sinh năm 1980. D chỉ bản số: 57 lập ngày 25/12/2025 tại phân trại tạm giam H, Công an thành phố H.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Ngày 20/8/2020, Tòa án nhân dân quận Ba Đình có quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (QĐ số 25).

- Ngày 17/01/2022, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng có quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (QĐ số 14).

Bắt quả tang và tạm giữ: 17/12/2025; Tạm giam: 26/12/2025

(Có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 17/12/2025, Tổ công tác Công an phường Đ, thành phố Hà Nội trong khi làm nhiệm vụ thì phát hiện tại trước số nhà G ngõ A phố Đ, phường Đ, thành phố Hà Nội bị can Phạm Hữu H có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, H tự nguyện giao nộp từ trong túi quần đăng trước bên trái 01 gói giấy màu vàng kích thước khoảng (02 x 02) cm, bên trong chứa chất bột màu trắng và tại chỗ H khai nhận đó là ma túy heroin của H mang theo để bán kiếm lời nếu bán thành công sẽ hưởng lợi 100.000 đồng thì bị Tổ công tác bắt giữ. Tổ công tác tiến hành lập biên bản, thu giữ niêm phong vật chứng tại chỗ và đưa H cùng tang vật về trụ sở để làm rõ. Ngoài ra, Tổ công tác thu giữ của H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A7, màu xanh số Imeil: 351580103922791; Imei2: 351581103922799 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A14, màu đen có số Imeil: 357368582042016; Imei2: 357497682042012. Cơ quan CSĐT - Công an thành phố H đã ra quyết định trưng cầu giám định số ma túy thu giữ của Phạm Hữu H và giám định chất ma tuý trong nước tiểu của H. Tại kết luận giám định số 9047/KL-KTHS ngày 26/12/2026 của Phòng K - Công an T kết luận: “- Chất bột màu trắng bên trong 02 gói giấy màu vàng (Ký hiệu A1) là ma túy loại Heroin, khối lượng 0,240 gam.

- Trong mẫu nước tiểu của Phạm Hữu H thu ngày 17/12/2025 (Ký hiệu A2) có tìm thấy ma túy loại Methamphetamin, ma túy loại Morphine và có G-MAM (ma túy loại Morphine tìm thấy trong mẫu nước tiểu của Phạm Hữu H có thể là chất chuyển hóa của ma túy Heronin trong cơ thể người hoặc có thể được sử dụng trực tiếp, 6-MAM là chất chuyển hóa của ma túy Heroin trong cơ thể người).” (BL: 17) Tại Cơ quan điều tra, Phạm Hữu H khai nhận: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 17/12/2025, H đi bộ ra khu vực đầu ngõ B K, phường Đ, thành phố Hà Nội tìm mua ma túy Heroin để bán kiếm lời. Tại đây, H đã gặp một người đàn ông không quen biết và hỏi mua của người này 01 gói ma túy Heroin với giá 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) cất vào trong túi quần đằng trước bên trái rồi đi bộ một mình để tìm người nghiện bán ma túy kiếm lời. Đến khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày, khi H đang đi bộ đến trước số nhà G ngõ A Đ thì bị tổ công tác Công an phường Đ kiểm tra, bắt giữ như trên. Ngoài ra, Phạm Hữu H còn khai nhận ngày 16/12/2025 H một mình sử dụng ma tuý Heroine tại vỉa hè đường bờ sông K, gần khu vực cầu L, phường Đ, Hà Nội bằng hình thức đốt ma tuý trên tờ giấy bạc và hít. Lời khai của H phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Tại thời điểm bắt giữ, trong mẫu nước tiểu của Phạm Hữu H có chất ma tuý loại Methamphetamin, ma túy loại Morphine và có 6-MAM. Phạm Hữu H thuộc diện quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú, thời hạn quản lý sau cai nghiện từ ngày 17/7/2024 đến ngày 17/7/2026 (Theo Quyết định Quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú số 111/QĐ-UBND ngày 22/7/2024 của Ủy ban nhân dân xã D, thành phố Hà Nội). Đối với người đàn ông bán ma tuý cho Phạm Hữu H: Cơ quan điều tra đã tiến hành dẫn giải H xác định địa điểm mua ma túy tại khu vực đầu ngõ B K, phường Đ, Hà Nội nhưng không xác định được người này, bản thân H khai không quen biết, không xác định được tên tuổi địa chỉ thể của nam thanh niên đó. Vì vậy Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố H không có căn cứ xác minh, xử lý. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A7, màu xanh số Imeil: 351580103922791; Imei2: 351581103922799 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A14, màu đen có số Imeil: 357368582042016; Imei2: 357497682042012. Quá trình điều tra xác định là tài sản của Phạm Hữu H, không liên quan đến hành vi phạm tội.

Tại bản cáo trạng số 27/CT-VKSKV3 ngày 19/3/2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hà Nội truy tố Phạm Hữu H về tội “Mua bán trái phép chất phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự và tội “Sử dụng trái phép chất phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra và công nhận nội dung bản cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Sử dụng trái phép chất ma túy” là đúng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội, sau khi phân tích tính chất hành vi của bị cáo giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị kết tội bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn trong cáo trạng; đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm b khoản 1 Điều 256a; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 36 tháng đến 42 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; đề nghị xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 30 tháng đến 36 tháng tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, đề nghị xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm 06 tháng tù. Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy ma túy, trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A7 màu xanh và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A14 màu đen. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hà Nội, Kiểm sát viên: trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

. Về tội danh:

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng tang vật thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 17/12/2025 tại trước cửa số nhà G ngõ A phố Đ, phường Đ, thành phố Hà Nội, Phạm Hữu H có hành vi tàng trữ trái phép 0,240 gam Heroine với mục đích để bán hưởng lợi số tiền 100.000 đồng nhưng chưa kịp bán thì bị bắt quả tang cùng vật chứng. Ngoài ra, ngày 16/12/2025, Phạm Hữu H có hành vi sử dụng ma túy Heroine tại vỉa hè đường bờ sông K, gần khu vực cầu L, phường Đ, thành phố Hà Nội.

Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự và tội "Sử dụng trái phép chất ma túy" quy định tại khoản điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự.

. Trách nhiệm hình sự và hình phạt:

Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ ma tuý để bán là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi của bị cáo xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo đã 02 lần đi cai nghiện bắt buộc nhưng vẫn không từ bỏ được ma túy. Điều đó cho thấy bị cáo đã được cơ quan nhà nước giáo dục nhiều lần nhưng không cải tạo để sửa đổi, thể hiện ý thức coi thường pháp luật; thời gian đi cai nghiện bắt buộc chưa đủ cho bị cáo có thể từ bỏ hẳn việc sử dụng ma túy. Do đó cần có mức hình phạt tù giam cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội trong một thời gian để giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung đồng thời cũng để cho bị cáo có thời gian để cai nghiện ma túy. Bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử lý tang vật:

- Ma túy còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành nên tịch thu để tiêu hủy.

- Trả lại cho bị cáo 02 điện thoại động do không liên quan đến hành vi phạm tội.

Án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ: + khoản 1 Điều 251; điểm b khoản 1 Điều 256a; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55 Bộ luật hình sự; + Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, 135, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

+ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. 2. Xử phạt bị cáo Phạm Hữu H:

03 (Ba) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

02 (H1) năm tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Tổng hợp hình phạt của cả hai tội buộc bị cáo phải chấp hành là 05 (Năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/12/2025.

3. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy ma túy theo Biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định lập ngày 17/12/2025 tại phòng PC09 - Công an thành phố H; Bản kết luận giám định số 9047/KL-KTHS ngày 26/12/2025 của Phòng K - Công an thành phố H)

- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A7 màu xanh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A14 màu đen

(Tang vật hiện giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 theo biên bản giao nhận tang vật, vật chứng số TV: 206/KV3-300 ngày 01/4/2026).

4. Về án phí, quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ