vanban.org

Bản án 208/2025/HSST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hà Nội, TP. Hà Nội Tuyên án 31/10/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo ĐTT phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: ĐTT 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo ĐTT phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Luật thi hành án; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 – HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 208/2025/HSST
Ngày: 31/10/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân

1) Ông Nguyễn Đình Hùng

2) Bà Nguyễn Thị Kim Hoa

- Thư ký ghi biên bản phiên Tòa: Bà Hoàng Huyền Trang –Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Nhiên – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Hà Nội đã xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 206/2025/HSST, ngày 14 tháng 10 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 210/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: ĐTT, sinh năm 1977 tại Hà Nội; CCCD: 00********77; cấp ngày 25/04/2021; Nơi cấp: Cục C06 – Bộ Công an. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ 36 phường L, thành phố H. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông ĐNT, sinh năm 1947 và bà LTC, sinh năm 1948; Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ 4. Có vợ là NTN và 02 con (sinh năm 2007 và 2011). Tiền án, tiền sự: Theo danh chỉ bản số 02 lập ngày 11/09/2025 tại Công an phường Long Biên và lý lịch bị can thể hiện bị cáo không có tiền án, tiền sự.

Nhân thân:

- Ngày 24/6/2004 Tòa án nhân dân Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội xử phạt 20 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/2/2006 (đã được xóa án tích).

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà NTN – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

ĐTT là đối tượng nghiện ma túy, đang điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone tại Cơ sở điều trị Methadone quận Long Biên (nay là trạm y tế phường Việt Hưng) từ ngày 14/8/2012 đến nay với liều điều trị hiện tại là 130mg/ngày. Quá trình điều trị của ĐTT là liên tục không bị gián đoạn. Tuy nhiên, trưa ngày 29/7/2025, khi T đang ở nhà một mình thì có một người bạn quen biết ngoài xã hội tên T2 không rõ nhân thân đến chơi. Thấy T bị đau do mới mổ chân nên T2 đưa một gói giấy bên trong chứa ma túy Heroine để sụng. Sau khi T2 đi về, T lấy giấy bạc trong bao thuốc lá rồi cho hết số ma túy Heroine mà T2 vừa cho lên mảnh giấy bạc, dùng bật lửa hơ nóng phía dưới giấy bạc và hít ma túy vào bên trong cơ thể. Sau đó, T đã vứt giấy bạc vào trong thùng rác. Đến gày 01/08/2025, Công an phường Long Biên mời T đến trụ sở làm việc, xét nghiệm mẫu nước tiểu thì phát hiện T dương tính với ma túy. Bản thân T nhận thức rõ việc sử dụng ma túy của bản thân là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý vi phạm.

Cùng ngày 01/8/2025, Cơ quan điều tra dẫn giải ĐTT xác định vị trí sử dụng ma túy tại nhà và đã thu giữ 01 chiếc bật lửa màu vàng trên thân bật lửa có dòng chữ “Thống nhất” mà T đã dùng để sử dụng ma túy.

Tại Kết luận giám định số 4722/KL-KTHS ngày 10/8/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: Trong mẫu nước tiểu của ĐTT thu ngày 01/8/2025 gửi giám định có tìm thấy ma túy loại Morphine, ma túy loại Methadone và có MAM-6, EDDP (MAM-6 là chất chuyển hóa của chất ma túy Heroine, EDDP là chất chuyển hóa của chất ma túy Methadone trong cơ thể người).

Tại bản cáo trạng số 191/CT-VKS-KV5 ngày 30 tháng 09 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 – Hà Nội đã truy tố bị cáo ĐTT phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 1 điều 256a của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Bị cáo ĐTT vắng mặt nên không có lời trình bày. Chủ tọa thay mặt Hội đồng xét xử công bố lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra.

Đại diện Viện kiểm nhân dân Khu vực 5 – Hà Nội sau khi tóm tắt nội dung sự việc, đánh giá lời khai của bị cáo và các tài liệu có trong hồ sơ vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với ĐTT; trình bày lời luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Tuyên bố bị cáo ĐTT phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt ĐTT từ 24 đến 28 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo ĐTT vì bị cáo không có thu nhập ổn định.

Về tang vật: Đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 bật lửa màu vàng trên thân bật lửa có dòng chữ “Thống nhất”.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo ĐTT vắng mặt nên không có ý kiến tranh luận.

Người bào chữa cho bị cáo: Về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo ĐTT, Trợ giúp viên pháp lý hoàn toàn đồng ý với nội dung bản cáo trạng và không có ý kiến gì tranh luận. Chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo: Bị cáo thành khẩn khai báo. Bản thân bị cáo bị nhiễm chất độc màu da cam, hiện nay bị cáo vừa bị tai nạn gãy chân. Hoàn cảnh gia đình khó khăn, bố mẹ già yếu, các con đang độ tuổi ăn học. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, áp dụng hình phạt thấp nhất trong khung hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thành phố Hà Nội, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 – Hà Nội, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và giai đoạn chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử của Tòa án nhân dân Khu vực 5 – Hà Nội, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo ĐTT:

Xét lời khai nhận của bị cáo cơ quan điều tra, phiếu xét nghiệm, biên bản tạm giữ đồ vật, bản kết luận giám định, cùng với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ và nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 29/7/2025, tại tổ 36, phường L, thành phố H, ĐTT là đối tượng đang điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Đến ngày 01/8/2025, hành vi của ĐTT bị Công an phường Long Biên thuộc Công an thành phố Hà Nội phát hiện. Kết luận giám định trong mẫu nước tiểu của ĐTT thu ngày 01/8/2025 gửi giám định có tìm thấy ma túy loại Morphine, ma túy loại Methadone (trong đó MAM-6 là chất chuyển hóa của ma túy Heroine, EDDP là chất chuyển hóa của Methadone trong cơ thể người).

Hành vi phạm tội của bị cáo ĐTT đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Hà Nội truy tố bị cáo ĐTT về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đặc biệt trong tình hình hiện nay, tệ nạn ma tuý đang là vấn đề nhức nhối của xã hội, ma tuý gây ảnh hưởng tới sự phát triển lành mạnh của con người, làm hủy hoại sức khỏe, giảm khả năng lao động và là một trong những nguyên nhân gây ra các tội phạm khác; gây mất trật tự an toàn xã hội. Bản thân bị cáo biết nhà nước nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn có hành vi sử dụng ma túy loại Heroine trong thời gian bản thân đang điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Mathadone tại Cơ sở điều trị Methadone thì bị phát hiện. Việc bị phát hiện là ngoài ý muốn của bị cáo. Bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của nhà nước đối với các chất gây nghiện. Do đó hành vi vi phạm của bị cáo cần phải nghiêm trị.

Về nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra thể hiện bị cáo ĐTT không có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên, nhân thân của bị cáo có 01 tiền sự cùng loại tội đã được xóa án tích. Điều này thể hiện bị cáo đã từng được pháp luật giáo dục, răn đe nhưng bản thân bị cáo coi thường pháp luật. Trong thời gian đang điều trị cai nghiện vẫn tiếp tục sử dụng ma túy dạng Heroine. Do đó cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục bị cáo, cũng như để bị cáo có thời gian cai nghiện. Khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng đã xem xét: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa bị cáo ĐTT thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra bản thân bị cáo bị nhiễm chất độc màu da cam, và hiện bị tai nạn gãy 2 chân, nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 cho bị cáo.

. Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đã viện dẫn, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục bị cáo, cho bị cáo thời gian cai nghiện ma túy đồng thời cũng răn đe những đối tượng có ý định phạm tội.

Bị cáo ĐTT không có thu nhập ổn định nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

* Tịch thu tiêu hủy vật chứng bao gồm: 01 bật lửa màu vàng trên thân bật lửa có dòng chữ “Thống nhất”.

. Các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông tên T2, là người cho ĐTT ma túy ngày 29/7/2025, do không rõ nhân thân, lai lịch cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra làm rõ.

Về án phí: Bị cáo ĐTT phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo ĐTT phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

1. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 46; Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Áp dụng các Điều 106, 135, 136, 299, 326, 331 và 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Luật thi hành án.

Xử phạt: ĐTT 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Xử lý vật chứng:

* Tịch thu tiêu hủy vật chứng là 01 chiếc bật lửa màu vàng trên thân bật lửa có dòng chữ “Thống nhất”.

(Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 – Hà Nội, có tình trạng, đặc điểm như Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 30/09/2025 giữa Công an thành phố Hà Nội và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 – Hà Nội).

3. Về án phí: Bị cáo ĐTT phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ