- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo Bùi Hữu T phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 208/2024/HS-ST Ngày : 21/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - TP. HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Ngọc Tâm
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phạm Thị Mai
2. Bà Phạm Thị Lan
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Ngọc Lữ – Thư ký tòa án nhân dân quận Tân Bình – Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Tố Trinh - Kiểm sát viên
Ngày 21 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 222/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 288/2024/QĐXXST- HS ngày 08 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
BÙI HỮU T; sinh năm 1962 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký thường trú: đường H, Phường M, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Bùi Hữu T1 (chết) và bà: Vũ Thị T2 (chết); Vợ: Lê Thị L, sinh năm 1966; Con: 04 người; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 09/02/2023, Ủy ban nhân dân Phường 12, quận Tân Bình xử phạt vi phạm hành chính số tiền 3.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”; Nhân thân: Bản án số 708/HSST ngày 22/10/1991, của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ra phạt tù 18 tháng nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng về tội “Vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải”; Bản án số 16/HSST ngày 19/01/2016, của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh ra phạt tù 02 năm 06 tháng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 15/5/2024, Công an Phường 12, quận Tân Bình phối hợp Đội Cảnh sát hình sự Công an quận Tân Bình tiến hành kiểm tra hành chính quán cà phê tại địa chỉ số 1/A3 Cộng Hòa, Phường 12, Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, phát hiện Bùi Hữu T có hành vi đánh bạc dưới hình thức mua bán số đề, thu giữ trên bàn của T đang ngồi 01 máy tính casio, 07 tờ phơi đề, số tiền 1.093.000 đồng và 02 điện thoại di động.
Quá trình điều tra, xác định Bùi Hữu T đến quán cà phê tại địa chỉ số 1/A3 Cộng Hòa, Phường 12, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh do bà Nguyễn Thị Ngọc Đ làm chủ để uống cà phê và bán số đề cho khách từ ngày 03/5/2024. Khi người chơi đến mua số đề, T ghi số đề vào hai tờ phơi, thu tiền của khách, rồi giao lại cho khách 01 tờ, giữ lại 01 tờ phơi để đối chiếu. Việc T sử dụng địa điểm trên để hoạt động bán số đề không có ai biết và cùng tham gia. Vào lúc 15 giờ 00 phút ngày 15/5/2024 sau khi đến quán cà phê, T nằm ở võng thực hiện việc bán số đề cho 07 khách, bị bắt quả tang cùng tang vật như nêu trên.
Qua kiểm tra đối với 07 tờ phơi đề thu giữ, xác định, ngày 15/5/2024, T bán số đề các đài miền Nam cho 07 khách, tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 1.490.000 đồng. Trong đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Tân Bình xác định được 02 đối tượng mua số đề của T là Nguyễn Văn C (số tiền dùng đánh bạc là 396.000 đồng) và Nguyễn Văn C1 (số tiền dùng đánh bạc là 176.000 đồng).
Vật chứng :
- 07 tờ phơi đề (Lưu hồ sơ vụ án); 1.093.000 đồng tiền Việt Nam (nộp kho bạc); 01 máy tính cầm tay hiệu Casio.
- Đối với 01 điện thoại di động NOKIA màu xanh lục hiệu TA-1235 và 01 điện thoại di động hiệu Redmi 9A màu xanh dương, qua kiểm tra xác định không có nội dung liên quan đến hành vi ghi số đề nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Tân Bình đã trả lại cho Bùi Hữu T.
Đối với Nguyễn Văn C và Nguyễn Văn C1 có hành vi mua số đề của Bùi Hữu T số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, chưa bị xử phạt hành chính và chưa bị kết án về tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc, gá bạc nên Công an Phường 12 quận Tân Bình quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Văn C và Nguyễn Văn C1.
Đối với Nguyễn Thị Ngọc Đ không biết Bùi Hữu T sử dụng địa điểm tại quán cà phê để thực hiện hành vi đánh bạc, Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý.
Tại bản cáo trạng số 213/CT-VKS ngày 14 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đã truy tố bị cáo Bùi Hữu T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa: Trong phần luận tội đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình nêu tóm tắt nội dung vụ án, nguyên nhân điều kiện phát sinh tội phạm, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nêu các tình tiết giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
Về vật chứng vụ án, đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, không có tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Bùi Hữu T, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Tân Bình, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình được phân công điều tra giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; bị cáo, không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.
Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với bản kết luận điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của người làm chứng cùng tang vật, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận bị cáo Bùi Hữu T đã có hành vi bán số đề cho các con bạc với tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc là 07 phơi đề ngày 15/5/2024 với số tiền 1.490.000 đồng. Do bị cáo T đã bị Ủy ban nhân dân Phường 12, quận Tân Bình xử phạt vi phạm hành chính số tiền 3.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc” vào ngày 09/02/2023 chưa được xóa nên hành vi của bị cáo Bùi Hữu T đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng, làm ảnh hưởng trật tự trị an ở địa phương, là một trong những nguyên nhân dẫn đến tệ nạn xã hội và các tội phạm khác. Bị cáo đã thành niên, đủ khả năng nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng do tham lam, tư lợi bị cáo cố tình thực hiện hành vi phạm tội, xét nhân thân bị cáo là xấu do đó cần xem xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo để xử phạt bị cáo mức án nghiêm để có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ: Hội đồng xét xử xem xét tình tiết: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là người cao tuổi để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về tang vật vụ án:
- 01 máy tính cầm tay hiệu Casio và số tiền 1.093.000 đồng tiền Việt Nam liên quan đến hành vi phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước (theo giấy nộp tiền ngày 06/9/2024 do ông Nguyễn Tuấn Vũ nộp vào tài khoản Công an quận Tân Bình tại Kho bạc Nhà nước Tân Bình – Tp. Hồ Chí Minh).
Về án phí: Do bị cáo là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí, Hội đồng xét xử miễn toàn bộ án phí cho bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Căn cứ Điều 106, Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ Luật phí, lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
[1] Tuyên bố bị cáo Bùi Hữu T phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo: BÙI HỮU T 09 (Chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”.
Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
[2] Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 máy tính cầm tay hiệu Casio màu đen có mã số MX128; số tiền 1.093.000 (Một triệu không trăm chín mươi ba ngàn) đồng, (theo giấy nộp tiền theo giấy nộp tiền ngày 06/9/2024 do ông Nguyễn Tuấn Vũ nộp vào tài khoản Công an quận Tân Bình tại Kho bạc Nhà nước Tân Bình – Tp. Hồ Chí Minh).
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 29/BB/2025 ngày 14/11/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Tân Bình).
[3] Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[4] Trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Công an quận Tân Bình; - VKSND quận Tân Bình; - Chi cục THADS quận Tân Bình; - TAND, VKSND Tp. Hồ Chí Minh; - Phòng HSNVCS CA Tp. HCM; - Sở Tư pháp Tp. Hồ Chí Minh; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trương Ngọc Tâm |