vanban.org

Bản án 208/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 25/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Tuấn M phạm tội Bắt, giữ người trái pháp luật.

Xử phạt bị cáo Lê Tuấn M 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/4/2023. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giả… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Tuấn M bị xét xử về tội Bắt, giữ người trái pháp luật - phạm tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (điều 157 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Tuấn M phạm tội Bắt, giữ người trái pháp luật.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 157 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN
TỈNH BÌNH DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 208/2023/HS-ST
Ngày 25-7-2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Ngân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Đức Lợi;

2. Bà Ngô Thị Dịu.

Thư ký phiên tòa: bà Đỗ Thị Hương Giang, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: ông Trần Trọng An, Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 197/2023/TLST-HS ngày 08 tháng 6 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 230/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

Lê Tuấn M, sinh ngày 15/3/2001 tại tỉnh Đ; thường trú: tổ 11, ấp S, xã X, huyện C, tỉnh Đ; nghề nghiệp: công nhân; trình độ học vấn: 8/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Lê Tuấn H, sinh năm 1977 và bà Phạm Thị T, sinh năm 1982; bị cáo chưa đăng ký kết hôn, có 01 con là Lê M T, sinh năm 2021; tiền án: ngày 20/11/2019, bị Tòa án nhân dân thị xã D xử phạt 01 năm 06 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt ngày 08/11/2020; tiền sự: không. Bị can bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/4/2023 cho đến nay. Có mặt.

- Bị hại: Ông Trần Trung H, sinh năm 1989; địa chỉ: 956/8A, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh B. Vắng mặt

- Người làm chứng:

+ Ông Lê Quang V, sinh năm 1990; Vắng mặt

+ Ông Nguyễn Đình L, sinh năm 1986; Vắng mặt

+ Bà Bùi Thị H, sinh năm 1959; Vắng mặt

+ Bà Trần Thị H1, sinh năm 1986; Vắng mặt

+ Ông Trần Văn H, sinh năm 1990; Vắng mặt

+ Ông Bùi Văn N, sinh năm 1999. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Tuấn M có quen biết Nguyễn Đình L. Do L nghi ngờ ông Trần Trung H chiếm đoạt tiền trong cốp xe nên L có ý định tìm gặp ông H để hỏi rõ. Khoảng 16 giờ ngày 16/01/2022, L gọi điện rủ Lê Tuấn M cùng đi tìm ông H, M đồng ý. Sau đó, L điều khiển xe mô tô biển số 61N5 – 9979 đến gặp M và M chở L đi về hướng chợ Dĩ An. Trên đường đi đến đoạn đường gần siêu thị Vinatex tại chợ Dĩ An thì cả hai gặp Lê Quang V đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario màu trắng (không gắn biển số), L tiếp tục rủ V cùng đi tìm H thì V đồng ý. Khi đến trước nhà của ông H tại số 956/8A, khu phố Đ, phường T, thành phố D, L xuống xe còn V và M quay đầu xe lại, dừng xe để chờ. Tại đây L gọi ông H, ông H đi ra mở cửa, L yêu cầu ông H đi cùng L để gặp tên Béo nói chuyện nhưng ông H không đồng ý mà đi vào nhà. Cùng lúc, L dùng tay trái kẹp cổ ông H, tay phải lấy trong túi xách ra khẩu súng chĩa vào người ông H để khống chế và kéo ông H ra khỏi nhà. Lúc này, bà Bùi Thị H và bà Trần Thị H là mẹ và chị của ông H, phát hiện chạy ra can ngăn, L chĩa súng về phía bà H và bà H1 đe dọa nên bà H và bà H1 không dám can ngăn. L khống chế ông H ngồi lên xe mô tô biển số 61N5 – 9979 do M đợi sẵn, ông H ngồi giữa, L ngồi sau giữ rồi M điều khiển xe mô tô chở đi, còn V điều khiển xe mô tô chạy kè theo sau hỗ trợ đưa ông H đến bãi đất trống tại khu dân cư Liên Ích, thuộc khu phố Đông A, phường Đông Hòa, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Tại đoạn đường vắng trong khu dân cư Liên Ích, M, V dừng xe lại bên lề đường, đồng thời xuống xe vây quanh ông H. L yêu cầu ông H ngồi xuống đường rồi M và L dùng tay, chân đánh vào người ông H, mục đích để tra hỏi việc ông H có lấy tiền không nhưng ông H nói không lấy, L lấy điện thoại gọi cho tên Béo ra gặp mặt ông H để nói chuyện nhưng Béo không đồng ý. Lợi dụng lúc sơ hở, ông H đứng lên bỏ chạy thì L cầm súng đánh vào mặt ông H, ông H tiếp tục bỏ chạy vào bãi đất trống thì M nhặt 01 khúc cây tầm vông đuổi theo, ông H vấp té ngã xuống đất thì L lấy khúc cây từ M chạy đến đánh vào người ông H. Ông H đứng dậy bỏ chạy thoát vào nhà dân, sau đó được đưa đến Bệnh viện điều trị thương tích.

Ngày 16/01/2022, ông Trần Trung H làm đơn gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương yêu cầu xử lý hình sự đối với các đối tượng đã gây thương tích cho ông H.

Theo Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 203/2022/GĐPY ngày 24/3/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Dương, kết luận thương tích của Trần Trung H, như sau:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Vết thương đỉnh đầu 2 x 0,3 cm, vết thương trán phải 2,5 x 0,1cm, vết thương mi trên mắt trái 1 x 0,1cm, vết thương gối phải 3 x 0,7cm , sẹo lành.

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 09 % ( chín phần trăm ) theo Bảng tỷ lệ tổn thương cơ thể ban hành kèm theo Thông tư số: 22/2019/TT/BYT do Bộ Y tế ban hành ngày 28/8/2019.

Cơ chế hình thành vết thương :

-Vết thương đỉnh đầu, chiều từ trước ra sau, hướng từ trên xuống, bờ - không rõ, khả năng do vật tày gây ra.

- Vết thương trán phải, chiều nghiêng xuống khoảng 45 ° từ trái sang phải, hướng từ trước ra sau, bờ không sắc gọn, khả năng do vật tày gây ra.

- Vết thương mi trên mắt trái, chiều nằm ngang, hướng từ trước ra sau, bờ hơi nham nhở, khả năng do vật tày gây ra.

- Vết thương gối phải, chiều nằm ngang, hướng từ trước ra sau, bờ không sắc gọn, khả năng do vật tày gây ra.

Ngày 05/4/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương, khám xét khẩn cấp tại địa chỉ 57/62, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh B, Cơ quan Công an thu giữ:

+ 01 khẩu súng điện màu đen; 02 viên đạn dùng cho súng điện;

+ 01 Súng ngắn bằng kim loại màu đen trên thân súng có dòng chữ Glock 19AUS TRIA 9x19 có hộp tiếp đạn;

+ 01 dao tự chế bằng kim loại dài 50cm, mũi nhọn, lưỡi bằng kim loại màu trắng bạc, cán bằng nhựa;

+ 01 cây kiếm Nhật dài 01 m có bao kiếm, lưỡi bằng kim loại, cán bằng gỗ;

- Tại Kết luận giám định số 2533/KL - KTHS ngày 17/05/2022 của Phân viện KHHS tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

1. Về khẩu súng gửi giám định:

1.1. Khẩu súng gửi giám định là đồ chơi nguy hiểm sử dụng khí nén bắn đạn bi 6mm; không phải là vũ khí quân dụng, không có tính năng tác dụng tương tự như vũ khí quân dụng.

1.2. Hiện tại, khẩu súng còn đầy đủ các bộ phận, hoạt động bình thường, do hết khí nén nên súng không bắn được đạn ra khỏi nòng .

1.3. Sử dụng khẩu súng trên (khi có đủ khí nén) bắn đạn bi 6mm, trúng cơ thể người có thể gây thương tích.

1.4. Khẩu súng trên không liên quan đến vụ án nào đang lưu trong tàng thử súng đạn của Phân viện KHHS tại thành phố Hồ Chí Minh.

2. Về 02 viên đạn chứa trong hộp tiếp đạn :

2.1. 02 viên đạn gửi giám định là đạn bi 6mm, không thuộc danh mục vũ khí quân dụng; không phải là đạn sử dụng cho vũ khí quân dụng.

2.2. 02 viên đạn trên sử dụng cho các loại súng đồ chơi nguy hiểm.

2.3. Sử dụng khẩu súng đồ chơi nguy hiểm phù hợp bắn 02 viên đạn trên trúng cơ thể người có thể gây thương tích.

2.4. 02 viên đạn trên không chứa thành phần thuốc nổ.

2.5. 02 viên đạn trên sử dụng cho khẩu súng gửi giám định và các loại súng đồ chơi nguy hiểm khác có đường kính nòng 6mm.

Ngày 20/6/2022 bị hại Trần Trung H có đơn rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với hành vi cố ý gây thương tích. Ngày 28/6/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố Dĩ An ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự về tội “Cố ý gây thương tích”.

Ngày 30/6/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương, khởi tố bị can và ra lệnh bắt bị can để tạm giam Lê Tuấn M về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”, do bị can bỏ trốn nên ngày 14/8/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định truy nã.

Ngày 20/7/2022, UBND thành phố Dĩ An đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lê Tuấn M về hành vi: cố ý gây thương tích nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự và tàng trữ trái phép đồ chơi nguy hiểm bị cấm.

Ngày 03/4/2023, Lê Tuấn M bị bắt giữ theo quyết định truy nã của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An và bị tạm giam để điều tra về hành vi “Bắt, giữ người trái pháp luật ” cho đến nay.

Đối với Nguyễn Đình L và Lê Quang V, đã được Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An xét xử tại Bản án hình sự sơ thẩm số 288/2022/HS-ST ngày 20/9/2022, trong đó bị cáo Nguyễn Đình L bị xử phạt 01 năm 03 tháng tù và bị cáo Lê Quang V bị xử phạt 01 năm tù về tội Bắt, giữ người trái pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Đã được giải quyết tại Bản án hình sự sơ thẩm số 288/2022/HS-ST ngày 20/9/2022 nên không đề cập xử lý.

Tại cáo trạng số 220/CT-VKS-DA ngày 08 tháng 6 năm 2023, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lê Tuấn M về tội Bắt, giữ người trái pháp luật theo khoản 1 Điều 157 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 157, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Tuấn M mức án từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo không có ý kiến tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: bị hại, những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai tại cơ quan điều tra, không có yêu cầu gì trong vụ án. Tòa án xét xử vắng mặt những người này theo quy định tại Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Căn cứ vào lời khai của bị cáo, bị hại, những người làm chứng; kết luận giám định số 2533/KL - KTHS ngày 17/5/2022 của Phân viện KHHS tại Thành phố Hồ Chí Minh, Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 203/2022/GĐPY ngày 24/3/2022 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Bình Dương và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, xác định: khoảng 16 giờ ngày 16/01/2022, tại số nhà 956/8A, khu phố Đ, phường T, thành phố D, bị cáo Lê Tuấn M và đồng phạm đã có hành vi sử dụng vũ lực để khống chế, bắt, giữ, chở ông Trần Trung H từ địa chỉ số nhà 956/8A, khu phố Đ, phường T, thành phố D đến bãi đất trống trong khu dân cư Liên Ích, khu phố Đ, phường Đ, thành phố D, tỉnh B để tra hỏi ông H về việc chiếm đoạt tiền.

Hành vi trên của bị cáo Lê Tuấn M và đồng phạm dùng vũ lực để khống chế bắt, giữ trái ý muốn của bị hại đã đủ yếu tố cấu thành tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số: 220/CT-VKS-DA ngày 08 tháng 6 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và luận tội của Kiểm sát viên truy tố bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là ít nghiêm trọng, nhưng đã xâm phạm về thân thể, quyền tự do, dân chủ của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo biết đây là hành vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Đây là vụ án có tính chất đồng phạm nhưng là giản đơn không có sự cấu kết chặt chẽ, không có sự bàn bạc, phân công vai trò cụ thể khi thực hiện hành vi phạm tội nên không xem là phạm tội có tổ chức. Bị cáo M mặc dù không phải là người cầm đầu, rủ rê nhưng cùng với L là người thực hành tích cực trong vụ án.

Tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bị kết án chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội do cố ý là tình tiết tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo và có thái độ ăn năn hối cải. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về hình phạt: Xét bị cáo đã có tiền án chưa được xóa án tích, nay chỉ vì muốn hỏi về việc bị hại lấy tiền của L hay không mà đã cố ý xâm phạm thân thể, quyền tự do dân chủ của bị hại, bị cáo giữ vai trò thực hành tích cực. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Đã được giải quyết tại Bản án hình sự sơ thẩm số 288/2022/HS-ST ngày 20/9/2022 nên không xử lý.

Đối với hành vi của Nguyễn Đình L và Lê Quang V đã được Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An xét xử tại Bản án hình sự sơ thẩm số 288/2022/HS-ST ngày 20/9/2022 nên không xem xét.

Về hành vi cố ý gây thương tích và tàng trữ súng đồ chơi nguy hiểm: ngày 20/6/2022 bị hại Trần Trung H có đơn rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với hành vi cố ý gây thương tích nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An đã đình chỉ điều tra vụ án hình sự đồng thời UBND thành phố Dĩ An đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lê Tuấn M về hành vi cố ý gây thương tích nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự và tàng trữ trái phép đồ chơi nguy hiểm bị cấm là phù hợp.

Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, khung hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Tuấn M phạm tội Bắt, giữ người trái pháp luật.

Căn cứ khoản 1 Điều 157, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Lê Tuấn M 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/4/2023.

2. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Lê Tuấn M phải nộp 200.000 (hai trăm nghin) đồng án phí hình sự

̀ sơ thẩm.

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ