vanban.org

Bản án 208/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Tiền Giang Tuyên án 27/11/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 27/11/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh N.

Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 42/2023/HSST ngày 15 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang đã quyết định: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh N - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh N.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 208/2023/HS-PT
Ngày: 27 - 11 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Trung Hiếu.

Các Thẩm phán: Ông Mai Văn Hùng Cường.

Ông Võ Ngọc Giàu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Mơ - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 190/2023/TLPT-HS ngày 11 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Thanh N do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 42/2023/HSST ngày 15 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Thanh N (L), sinh ngày 20/9/1994 tại Tiền Giang.

Nơi cư trú: ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu T và bà Nguyễn Thị Kim A; vợ: Lê Thị Diễm T1 và có 01 người con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra trong vụ án còn có đại diện hợp pháp của bị hại, 02 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo, bản án không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 10/02/2023 bị cáo điều khiển xe ô tô tải hiệu ISUZU biển số 50H-003.89 lùi xe từ bên trong vựa dừa H, tại ấp T, xã A, huyện C ra lề đường Quốc lộ 50, do thiếu chú ý quan sát nên để xảy ra va chạm với xe mô tô hai bánh, loại Wave, biển số 63B7-011.72 do ông Nguyễn Văn T2 sinh năm 1938 ngụ Khu phố B, thị trấn V, huyện G đang lưu thông trên Quốc lộ E hướng từ M về thị xã G (cùng lề với xe tải). Hậu quả ông T2 tử vong.

* Kết luận giám định pháp y:

Theo bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 55/2023/TTh ngày 10/02/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh Tiền Giang, xác định nguyên nhân tử vong của ông Nguyễn Văn T2: Mất máu cấp do chấn thương ngực gây đứt quai động mạch chủ; Đứt động mạch phổi; Gãy xương sườn cung trước và cung bên phải; Gãy 02 xương cẳng chân phải, gãy cổ xương đùi trái do tai nạn giao thông. Kết quả xét nghiệm nồng độ Alcool trong máu là 47.0 mg/dl.

Phiếu kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu ngày 10/02/2023 của Trung tâm Y tế huyện C đối với Nguyễn Thanh N là 1,6 mmol/l (văn bản số 195 ngày 21/3/2023 của Trung tâm Y tế huyện C giải thích kết quả xét nghiệm 1,6 mmol/l thì Nguyễn Thanh N không có sử dụng rượu bia).

* Khám nghiệm hiện trường:

+ Hiện trường nơi xảy ra tai nạn là Quốc lộ E, mặt đường trải nhựa bằng phẳng, rộng 11m, đường có hai chiều cho xe lưu thông, giữa tim đường có vạch kẽ phân cách màu vàng đứt khúc. Mỗi chiều đường có hai làn đường cho xe lưu thông được phân cách bằng vạch kẽ màu trắng đứt khúc, làn đường bên trái rộng 3,5 mét; làn đường bên phải rộng 02 mét. Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn đường thẳng, tầm nhìn không bị che khuất, không có biển báo, cọc tiêu.

+ Chọn lề đường hướng Nam đoạn xảy ra tai nạn làm lề chuẩn. Chọn trụ điện số 17 bên ngoài lề đường hướng Nam đoạn xảy ra tai nạn làm điểm mốc.

+ Xe ô tô tải biển số 50H-003.89 dừng bên ngoài lề đường hướng Nam. Đầu xe quay về hướng Đ, đuôi xe quay về hướng Tây bắc. Trục bánh trước bên trái xe nằm bên ngoài lề chuẩn và đo đến lề chuẩn là 2,8 mét. Trục bánh sau bên trái xe nằm bên ngoài lề chuẩn và đo đến lề chuẩn là 0,5 mét.

+ Xe mô tô biển số 63B7-011.72 di chuyển trên Quốc lộ E hướng từ Tây sang Đ (hướng từ M đi thị xã G). Sau tai nạn xe ngã về bên trái thân xe và nằm trên mặt đường. Đầu xe quay về hướng Đ, đuôi xe quay về hướng T. Trục bánh trước của xe đo đến lề chuẩn là 0,4 mét và cách trục bánh trước bên trái xe ô tô tải biển số 50H-003.89 là 4,8 mét. Trục bánh sau của xe đo đến lề chuẩn là 1,3 mét.

+ Vết cày của mô tô biển số 63B7-011.72 nằm trên mặt đường, còn mới, gồm nhiều vết nham nhở, đứt khúc, hướng từ T3 sang Đ, dài 5,9 mét. Từ đầu vết cày ở hướng Tây đo đến lề chuẩn là 1,1 mét và cách trục bánh sau bên trái của xe ô tô tải biển số 50H-003.89 về hướng Đông Bắc 1,75 mét; cuối vết cày nằm bên dưới gác chân sau bên trái xe mô tô.

Căn cứ vào những dấu vết, vật chứng, phương tiện tại hiện trường xác định vùng va chạm giữa hai phương tiện là A. Từ tâm A đo vuông góc đến lề chuẩn là 01 mét; đo đến trục sau bên trái xe ô tô tải 50H-003.89 là 2,3 mét; đo đến đầu vết cày của xe mô tô biển số 63H7-011.72 là 2,45 mét.

* Khám nghiệm phương tiện:

+ Xe ô tô tải biển số 50H-003.89:

- Dấu vết xước trượt và mất bụi phía sau bên trái cản sau của xe, kích thước (15 x 10) cm.

- Dấu vết xước trượt và mất bụi trên cạnh sau bên trái thùng xe, kích thước (25 x 3) cm.

- Dấu vết xước trượt và mất bụi cạnh dưới bên trái thùng xe, kích thước (11 X 5) cm.

- Bể ốp nhựa hộ đèn xin đường sau bên trái của xe, kích thước (6 x 4) cm.

- Nứt, cong vênh và móp kim loại vào trong trên thanh kim loại tiếp giáp bên trái đèn xin đường sau bên trái của xe, kích thước (15 x 1,5) cm.

+ xe mô tô biển số 63B7-011.72:

- Gãy kim loại trên đầu tay thắng bên phải của xe, kích thước (01 x 0,5) cm.

- Xước trượt và mài mòn nhựa trên ốp nhựa bọc bên ngoài để gắn kính chiếu hậu bên trái của xe, kích thước (1,5 x 0,5) cm.

- Bể mặt nạ của xe, kích thước (10 x 0,5) cm.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2023/HSST ngày 15 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh N 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Ngoài ra trong bản án còn quyết định về phần án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

* Ngày 21 tháng 8 năm 2023, bị cáo Nguyễn Thanh N có đơn kháng cáo với nội dung: Xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Thanh N khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như bản án sơ thẩm đã tuyên và có ý kiến giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang trong phần tranh luận phát biểu quan điểm giải quyết vụ án đã phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân cùng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, mức án Tòa án cấp sơ thẩm tuyên đối với bị cáo là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới nên kháng cáo của bị cáo là không có căn cứ. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh N, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như bản án sơ thẩm đã quy kết. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ, tài liệu thu được trong quá trình điều tra thể hiện: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 10/02/2023 bị cáo điều khiển xe ô tô tải hiệu ISUZU biển số 50H-003.89 lùi xe từ bên trong vựa dừa H, tại ấp T, xã A, huyện C ra lề đường Quốc lộ 50, do thiếu chú ý quan sát nên để xảy ra va chạm với xe mô tô hai bánh, loại Wave, biển số 63B7-011.72 do ông Nguyễn Văn T2 sinh năm 1938 ngụ Khu phố B, thị trấn V, huyện G đang lưu thông trên Quốc lộ E hướng từ M về thị xã G (cùng lề với xe tải). Hậu quả ông T2 tử vong. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người đã thành niên có đầy đủ sức khỏe và nhận thức để biết rằng phương tiện giao thông là nguồn nguy hiểm cao độ buộc mọi người khi tham gia phải tuyệt đối chấp hành tuy nhiên đối với bị cáo do chủ quan, thiếu quan sát khi lùi xe đã gây va chạm với xe khác gây hậu quả nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ mà còn xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người tham gia giao thông khác cụ thể gây ra cái chết của bị hại, cho nên phải được xét xử thỏa đáng nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo. Nếu cho bị cáo hưởng án treo sẽ không đủ sức răn đe và phòng ngừa.

Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy rằng: Khi quyết định hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, áp dụng tình tiết giảm nhẹ xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh N 01 (một) năm tù là có căn cứ, không nặng. Ngoài ra, trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo không bổ sung thêm tình tiết gì mới đáng kể nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu của bị cáo.

Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử có xem xét khi nghị án.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.

1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh N.

Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 42/2023/HSST ngày 15 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; Điều 38; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh N 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Nguyễn Thanh N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ