- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thị H - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 321 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 208/2020/HS-PT Ngày 20 – 8 – 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Y Thông Kbuôr.
Các Thẩm phán:
1. Ông Trương Công Bình
2. Ông Nguyễn Duy Thuấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Thùy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Cầu - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2020, tại Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 186/2020/TLPT-HS ngày 06 tháng 7 năm 2020, do có kháng cáo của bị cáo Phạm Thị H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2020/HS-ST ngày 28 tháng 5 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk.
* Bị cáo có kháng cáo: Phạm Thị H - sinh ngày 03/02/1993, tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn I, xã B, huyện A, tỉnh Hải Phòng; chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố S, thị trấn M, huyện M, tỉnh Đắk Lắk; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Nhân viên Spa; giới tính: Nữ; dân tộc: Mường; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; tiền án, tiền sự: không; con ông Phạm Văn Đ, sinh năm 1965 và bà Lê Thị T, sinh năm 1969; bị cáo có chồng là Vũ Văn Đ, sinh năm 1992 và có 03 con (lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh tháng 3 năm 2020); Bị cáo hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
* Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị cáo Hồ Thị L, Trần Thị H1 nhưng không có kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng giữa tháng 12/2019, Phạm Thị H và Trần Thị H1 rủ nhau ghi số đề được thua bằng tiền cho những người chơi đề đặt cược, dựa trên kết quả xổ số kiến thiết của các tỉnh Miền Bắc và Miền Trung mở thưởng trong ngày. H là người trực tiếp nhận các kèo và tiền đặt cược từ những người chơi thông qua các hình thức nhận đặt cược là từ tin nhắn điện thoại di động, tin nhắn “Zalo” hoặc người chơi đến trực tiếp ghi đề tại phòng trọ của H. Người chơi trực tiếp ghi số đề, H dùng giấy trắng ghi các con số, số tiền và “Đài’ xổ số mà người chơi đặt cược lên tờ giấy này (gọi là tờ phơi) sau đó đưa cho người chơi giữ, còn bản thân H sẽ nhận số tiền người chơi đặt cược tương đương với các kèo đặt ghi trên tờ phơi. Nếu người chơi thắng cược sẽ đem tờ phơi đến cho H để nhận tiền thắng cược. Trường hợp người chơi không đến ghi trực tiếp thì có thể gửi tin nhắn đến tài khoản “Zalo” có tên “Linh Đ” hoặc số điện thoại di động 09421763xx của H với nội dung “Đài” xổ số muốn cược, các con số và số tiền đặt cược, nhận được các tin nhắn này, nếu đồng ý thì H sẽ nhắn lại là “OK”. Tiền đặt cược và tiền thắng cược của những người chơi thông qua các tin nhắn này sẽ được H và người chơi tính toán sau khi có kết quả xổ số. Ngoài ra, H nhờ L làm trung gian ghi số đề với người chơi rồi chuyển lại cho H thông qua hình thức nhắn tin điện thoại, H trả cho L tiền công tuỳ theo số tiền mà L ghi đề được, thua cho H trong ngày hôm đó. Sau khi đồng ý nhận cược các kèo cũng như số tiền đặt cược của những người chơi đề, H tổng hợp lại rồi chuyển đến cho H1 để sau khi có kết quả thì H và H1 cùng nhau cá cược ăn thua với người chơi đề.
Với cách thức như vậy, trong ngày 08/01/2020, H ghi số đề được thua bằng tiền cho một số người chơi thông qua hình thức nhắn tin qua điện thoại di động dựa trên kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Bắc Ninh và tỉnh Khánh Hoà mở thưởng trong ngày 08/01/2020, cụ thể như sau:
- Người thứ nhất: Tô Thị B sử dụng số điện thoại 09416912xx nhắn tin các kèo số đề tương đương với số tiền đặt cược 943.000 đồng vào số điện thoại 09421763xx của H, H đồng ý nhận cược và nhắn lại “OK”.
- Người thứ hai: Từ Thị P sử dụng số điện thoại 09413173xx nhắn tin các kèo đặt tương đương với số tiền đặt cược 2.152.000 đồng vào số điện thoại 09421763xx, H đồng ý nhận cược và nhắn lại là “OK”.
- Người thứ ba: Hồ Thị L sử dụng số điện thoại 0858975539 nhắn tin chuyển tiếp các kèo mà người chơi đến ghi đề trực tiếp với mình đến số điện thoại 09421763xx cho H, tiền đặt cược 10.841.000 đồng, H đồng ý nhận cược hết.
Ngoài ra, tại phòng trọ của H, H còn nhận cược trực tiếp cho một người đàn ông lạ mặt (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) đến ghi đề tại phòng trọ của H với số tiền cược 866.000 đồng. Đến 18 giờ 10 phút cùng ngày, H đang ghi số đề trực tiếp cho Đặng Thị Kim V với số tiền 210.000 đồng thì bị Công an huyện M’Đrắk bắt quả tang.
Quá trình điều tra xác định, trong ngày 08/01/2020, tổng các kèo ghi đề của tất cả những người chơi mà H đã nhận đặt cược là 15.012.000 đồng. Sau khi nhận các kèo đặt cược này, H sử dụng số điện thoại 09421763xx nhắn tin chuyển một số kèo cược đến số điện thoại 09179055xx của H1 để cả hai cùng nhau cá cược như đã thoả thuận từ trước, sau khi nhận được các tin nhắn do H chuyển tới, H1 mới chỉ kịp đồng ý nhận cược với 12 tin nhắn đặt cược tương đương với số tiền 6.742.000 đồng, các kèo đặt cược còn lại, H ý định giữ lại một số để bản thân tự cá cược với người chơi và một số chưa kịp chuyển tiếp đến cho H1 thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt giữ.
Vụ việc ghi số đề nêu trên bị phát hiện sau giờ mở thưởng của đài xổ số miền Trung và trước đài xổ số miền Bắc (Bắc Ninh) mở thưởng. Căn cứ theo kết quả xổ số của tỉnh Khánh Hoà (tức đài miền Trung) mở thưởng bắt đầu từ lúc 17 giờ 15 phút và kết thúc vào lúc 17 giờ 30 phút ngày 08/01/2020 thì chỉ có các kèo cược của Tô Thị B và Hồ Thị L là thắng cược tại các kèo đặt cho cửa “bao lô”. Cụ thể, Tô Thị B thắng cược các kèo: “83 x 3đ”, “383 x 2đ”, “94 x 5đ”; Hồ Thị L thắng cược các kèo: “11 x 50đ”, “39 x 50đ” và “86 x 10đ”, thì:
- Số tiền Tô Thị B sử dụng để đánh bạc là: 943.000đ + (3.000đ x 70) + (2.000đ x 550) + (5.000đ x 70) = 2.603.000 đồng;
- Số tiền Hồ Thị L sử dụng để đánh bạc là: 10.841.000đ + (50.000đ x 70) + (50.000đ x 70) + (10.000đ x 70) = 18.541.000 đồng;
- Số tiền Phạm Thị H sử dụng đánh bạc là: 15.012.000đ + (3.000đ x 70) + (2.000đ x 550) + (5.000đ x 70) + (50.000đ x 70) + (50.000đ x 70) + (10.000đ x 70) = 24.372.000 đồng;
- Số tiền Trần Thị H1 sử dụng để đánh bạc là: 6.742.000đ + (30.000đ x 70) + (2.000đ x 550) + (3.000đ x 70) + (10.000đ x 70) + (20.000đ x 70) = 12.252.000 đồng;
- Số tiền Từ Thị P sử dụng để đánh bạc là: 2.152.000 đồng;
- Số tiền Đặng Thị Kim V sử dụng để đánh bạc là: 210.000 đồng;
- Số tiền người đàn ông lạ mặt sử dụng để đánh bạc với H là: 866.000 đồng.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 13/2020/HSST ngày 28 tháng 5 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị H phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Thị H 01 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phạt đối với các bị cáo Hồ Thị L, Trần Thị H1 và quyết định về xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 04/6/2020, bị cáo Phạm Thị H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Phạm Thị H vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo và đã khai nhận toàn bộ hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung vụ án đã được tóm tắt nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Phạm Thị H về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng pháp luật. Xét mức hình phạt 01 năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo là thỏa đáng và tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội nhưng có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như: Sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo phạm tội khi đang mang thai, hiện nay đang nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi; bị cáo là người dân tộc thiểu số, nên không cần thiết phải cách ly bị cáo với xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo, là phù hợp. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Thị H, sửa bản án sơ thẩm về biện pháp chấp hành hình phạt. Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Xử phạt: Bị cáo Phạm Thị H 01 năm tù, nhưng cho hưởng án treo, về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách là 02 năm, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bị cáo Phạm Thị H không tranh luận bào chữa gì và chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ để kết luận: Vào ngày 08/01/2020, bị cáo Phạm Thị H đã có hành vi ghi số đề cho những người chơi đề cá cược được thua bằng tiền, dựa trên kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Khánh Hòa và tỉnh Bắc Ninh mở thưởng trong ngày, với tổng các kèo ghi đề của tất cả những người chơi số đề cá cược là 15.012.000 đồng. Cụ thể, H đã trực tiếp ghi đề và nhận tiền của người chơi số đề cá cược số tiền 1.076.000 đồng, ghi đề qua tin nhắn điện thoại của một số người chơi số tiền 3.095.000 đồng, ghi đề qua tin nhắn qua điện thoại của bị cáo Hồ Thị L số tiền 10.841.000 đồng. Sau khi có kết quả xổ số tỉnh Khánh Hòa thì H bị bắt quả tang, khi đó có 02 người đã trúng số đề với số tiền là 9.360.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền đánh bạc của bị cáo Phạm Thị H là 24.372.000 đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Phạm Thị H về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ pháp lý và đảm bảo đúng người, đúng tội.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo Phạm Thị H, Hội đồng xét xử xét thấy: Mức hình phạt 01 năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo là thỏa đáng và tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo là người có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội nhưng có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như: Sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại thời điểm phạm tội, bị cáo đang có thai, hiện nay đang nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi; bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ nhận thức có phần hạn chế. Do đó, cần chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị cáo Phạm Thị H, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà để cho bị cáo được tự cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát của chính quyền địa phương và gia đình, cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
Về án phí: Do được chấp nhận kháng cáo nên bị cáo Phạm Thị H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Phạm Thị H – Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2020/HS-ST ngày 28 tháng 5 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk về biện pháp chấp hành hình phạt đối với bị cáo Phạm Thị H.
[2] Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Phạm Thị H 01 (một) năm tù, về tội “Đánh bạc”, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Phạm Thị H cho Ủy ban nhân dân thị trấn M, huyện M, tỉnh Đắk Lắk là nơi bị cáo thường trú để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách; Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
[3] Về án phí: Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo Phạm Thị H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; - TAND Cấp cao; - VKSND tỉnh Đắk Lắk (02 bản); - Phòng HSNV Công an tỉnh Đắk Lắk; - VP CQCSĐT Công an tỉnh Đắk Lắk; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - TAND huyện M’ Đrắk; - VKSND huyện M’ Đrắk; - Công an huyện M; - Chi cục THADS huyện M; - UBND thị trấn M, huyện M, tỉnh Đắk Lắk; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Y Thông Kbuôr |