vanban.org

Bản án 208/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Tuyên án 26/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TU
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 208/2019/HS-ST
Ngày: 26-11-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TU, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Văn Hưng;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Sơn Tây;

2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn gọ

n – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã TU, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã TU tham gia phiên tòa: Ông Trương Văn Th - Kiểm sát viên.

gày 26 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã TU, tỉnh Bình Dương t ử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 218/2019/TLST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2019 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo Quy t định đưa vụ án ra xét xử số: 217 Đ ST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2019 đối v i ị cáo:

Nguyễn Hoàng Kh D, sinh năm 1998 tại tỉnh Đồng ai; thường trú: Ấp Đ, xã L, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá: L p 9/12; gi i tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hoàng Quốc Kh, sinh năm 1977 và à guyễn Thị Kim L, sinh năm 1981; hưa vợ, con; tiền án: Không.Tiền sự: Ngày 09/10/2017 bị Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Nai áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào ơ sở cai nghiện bắt buộc” thời hạn 18 (Mười tám) tháng tại Cơ sở điều trị ma tuý tỉnh Đồng ai. Đ n ngày 27/9/2018 thì được miễn chấp hành. Tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/7 2019 ho đ n nay; có mặt.

- Người làm chứng:

1. Anh Trương Văn V, sinh năm 1996; vắng mặt.

2. Anh Nguyễn Anh P, sinh năm 1992; vắng mặt.

3. Anh Danh Thành Tr, sinh năm 1996; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn bi n tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt nhưsau:

Nguyễn Hoàng Kh D là đối tượng nghiện ma túy. Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 24/7/2019, D thuê e ôm đi từ xã C, thị xã TU đ n phòng trọ của bạn gái tên H (không rõ nhân thân, lai lịch) tại nhà trọ Cường Tư thuộc Ấp 1, xã V, thị xã TU, tỉnh Bình Dương hơi. Đ n khoảng 12 giờ cùng ngày thì H đi ông việc còn D ở tại phòng trọ. D sử dụng điện thoại số 0934.304.177 gọi vào số điện thoại 0908.473.680 của một đối tượng tên M (không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) ma túy đá và nói cho nợ 600.000 đồng thì M đồng ý và hẹn địa điểm giao ma túy. Khoảng 15 giờ cùng ngày, M gọi điện thoại cho D ra Đường số 28 thuộc xã V, thị xã TU, tỉnh Bình Dương nhận ma tuý. D đưa ho M 400.000 đồng và nhận 09 (Chín) gói nylon hàn kín chứa ma túy đá. Sau đó, D quay về phòng trọ của H và lấy 03 gói ma túy đá ỏ vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự ch để sử dụng và giấu 06 gói ma túy đá òn lại tại vị trí b p trong phòng trọ.

Khoảng 21 giờ ùng ngày, Trương Văn V gọi điện thoại hỏi D đang ở đâuthì D nói đang ở phòng trọ của H nên V đ n hơi. V đ n và nhìn thấy 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đánên V sử dụng chung số ma túy đá òn lại trong bộ dụng cụ sử dụng cùng v i D. Khoảng 22 giờ cùng ngày, Nguyễn Anh P và Danh Thành Tr gọi điện thoại hỏi V đang ở đâu thì V chỉ đường cho P và Tr đ n phòng trọ của H. Sau đó thì D, V, P và Tr cùng nhau sử dụng h t số ma túy còn lại trong bộ dụng cụ.

Khoảng 23 giờ cùng ngày, Công an xã V kiểm tra và phát hiện nên lập biên bản niêm phong số ma tuý do D giao nộp và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối v i D.Sau đó, Công an xã V bàn giao D cùng hồ sơ, vật chứng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã TU thụ lý theo thẩm quyền.

Tại K t luận giám định số 576/MT-PC09 ngày 01/8/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương k t luận: Mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng là 0,6901gam.

Cáo trạng số 217/CT-VKS.TU ngày 31/10/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã TU truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng Kh D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quy t định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng Kh D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Về hình phạt: Căn ứ điểm ckhoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Nguyễn Hoàng Kh D từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đ n 02 (Hai) năm tù.

- Về xử lý vật chứng: Căn ứ vào Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên xử:

+ Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm: 01 (Một) ì thư được niêm phong bên trong có chứa 0,6901gamma tuý, loại Methamphetamine và 01 (Một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự ch .

+ Tịch thu sung quỹ nhà nư c 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen, bên trong có 01 sim.

uá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo Nguyễn Hoàng Kh D khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng nêu trên.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo Nguyễn Hoàng Kh D trình bày: Bị áo đã nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn ứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; ăn ứ vào k t quả tranh luận tại phiên tòa trên ơ sở em t đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý ki n của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ XÉT THẤY:

1 Về thủ tụ tố tụng:

Bị áo thự hiện hành vi phạm tội trên địa àn thị ã TU, tỉnh Bình Dương. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị ã TU khởi tố vụ án, khởi tố ị an đối v i guyễn Hoàng Kh D là đúng thẩm quyền.

Về hành vi, quy t định tố tụng ủa Cơ quan điều tra Công an thị ã TU, Điều tra viên, Viện iểm sát nhân dân thị ã TU và iểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thự hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tụ quy định ủa Bộ luật Tố tụng hình sự. uá trình điều tra và tại phiên tòa, ị áo và những người tham gia tố tụng không ó người nào ó ý ki n hoặ khi u nại về hành vi, quy t định ủa ơ quan ti n hành tố tụng, người ti n hành tố tụng. Do đó, á hành vi, quy t định ủa ơ quan ti n hành tố tụng, người ti n hành tố tụng đã thự hiện đều hợp pháp.

2 Về tình ti t định tội và định khung hình phạt:

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hoàng Kh D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 25/7/2019 do Công an xã V, thị xã TU lập; k t luận giám định và á tài liệu, hứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; đủ ơ sở k t luận:

Ngày 24/7/2019, tại xã V, thị xã TU, tỉnh Bình Dương ị cáo Nguyễn Hoàng Kh D đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,6901gam ma tuý, loại Methamphetamine v i mụ đí h để sử dụng. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị áo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo Nguyễn Hoàng Kh D thực hiện đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Do đó, đủ ăn ứ k t luận Cáo trạng số 217/CT-VKS.TU ngày 31/10/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã TU truy tố Nguyễn Hoàng Kh D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là ó ăn ứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Về tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Hoàng Kh D đượ hưởng tình ti t “ gười phạm tội thành khẩn khai áo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về tình ti t tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình ti t tăng nặng trách nhiệm hình sự.

5 Căn ứ quy t định hình phạt: Xét mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối v i bị cáo là ó ăn ứ, phù hợp v i tính chất, mức độ phạm tội, các tình ti t giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị áo, đủ tác dụng giáo dục bị áo và răn đe, phòng ngừa chung nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về xử lý vật chứng: Căn ứ vào Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử thấy:

Đối v i 01 (Một) bì thư được niêm phong chứa 0,6901gam ma tuý, loại Methamphetamine và 01 (Một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự ch là công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối v i 01 (Một) điện thoại di động Nokia 1280 màu đen, bên trong có 01 sim là công cụ, phương tiện phạm tội, còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu sung quỹ nhà nư c.

[7] Về việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn hặn: Xét thấy cần ti p tục áp dụng biện pháp ngăn hặn tạm giam đối v i bị cáo Nguyễn Hoàng Kh D đ n khi có quy t định thi hành án để đảm bảo cho việc thi hành án.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phạm tội và bị k t án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn ứ vào:

- Các Điều 106, 135, 136, 268, 269, 298, 299, 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

- Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 38, 46 và 47 của Bộ luật hình sự;

- Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội hoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng Kh D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Kh D 02 (Hai) năm tù, thời hạn phạt tù tính từ ngày 25/7/2019.

Ti p tục áp dụng biện pháp ngăn hặn tạm giam đối v i bị cáo Nguyễn Hoàng Kh D để đảm bảo cho việc thi hành án.

3. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu, tiêu hủy các vật chứng gồm:

+ 01 (Một) bì thư được niêm phong, bên ngoài có ký hiệu 576/PC09, có chữ ký của người bị bắt Nguyễn Hoàng Kh D, người chứng ki n Trương Văn V, Nguyễn Anh P, Danh Thành Tr, cán bộ niêm phong Đỗ M Sơn, Phan Văn Tấn (Phó trưởng Công an xã), hình dấu mộ đỏ của Công an xã V, thị xã TU. Giấy niêm có chữ ký Nguyễn Hoàng Nam, Nguyễn Thành Lợi và hình dấu mộc niêm phong của Phòng KTHS Công an tỉnh Bình Dương, bên trong có chứa Methamphetamine theo k t luận giám định số 576/MT-PC09 ngày 01/8/2019 của Phòng KTHS Công an tỉnh Bình Dương;

+ 01 (Một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự ch .

- Tịch thu sung quỹ nhà nư c 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen có số IMEI 352432051212693, bên trong có 01 sim.

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 22 tháng 11 năm 2019 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thị xã TU và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã TU, tỉnh Bình Dương).

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị áo Nguyễn Hoàng Kh D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm v i số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên toà ó quyền kháng áo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ