- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuy n bố bị cáo Lê Hoàng N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 208/2019/HS-ST Ngày: 31-10-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Sinh.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Hiệp;
2. Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Hường - Kiểm Sát viên.
Ngày 31 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở, T a án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 196/2019/TLST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2019; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 219/2019/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2019, đối với bị cáo:
H và t n: Lê Hoàng N, sinh năm 1990; tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 4, ấp 2, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Khu 5, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hoá: 5/12; nghề nghiệp: Không; con ông L Văn B và bà Trần Thị N; bị cáo chưa có vợ con; tiền sự: Không.
Tiền án: Ngày 25/3/2014, bị T a án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xử phạt 07 năm tù về Tội mua bán trái phép chất ma túy, theo Bản án hình sự sơ thẩm số 68/2014/HSST.
Bị b t ngày 17/4/2019 và tạm giam cho đến nay; có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Thôi Kim Đ, sinh năm 1981; địa chỉ: Số 249, đường C, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.
Người chứng kiến: Ông Ngô Thanh S.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phi n t a, nội dung vụ án được tóm t t như sau:
Lê Hoàng N là đối tượng nghiện ma túy. Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 17/4/2019, trong lúc Lê Hoàng N đang ở nhà tại khu 5, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì nảy sinh ý định đi mua ma túy về sử dụng. Thực hiện ý định tr n, N điều khiển xe mô tô kiểu dáng Dream, biển số 72H7 – 7892 đến xã Bình Mỹ, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh để tìm mua ma túy. Khi đến khu vực sân banh thuộc xã Bình Mỹ, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh thì N thấy người nữ t n L (không rõ nhân thân, lai lịch, N đã nhiều lần mua ma túy của L) đang đứng trước sân banh n n N đến hỏi mua ma túy đá với số tiền 300.000 đồng và Heroin với số tiền 200.000 đồng thì L đưa cho N 01 gói nylon và 01 ống hút nhựa b n trong chứa tinh thể màu tr ng, đồng thời N đưa cho L số tiền 500.000 đồng. Sau đó, N cầm 01 gói nylon và 01 ống hút nhựa b n trong chứa tinh thể màu tr ng tr n tay phải rồi điều khiển xe mô tô kiểu dáng Dream, biển số 72H7 – 7892 để đi về nhà N tại khu 5, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Đến khoảng 17 giờ 45 phút cùng ngày, khi N điều khiển xe mô tô kiểu dáng Dream, biển số 72H7 – 7892 đi tr n đường ĐX91, đoạn thuộc khu 5, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an tỉnh Bình Dương phối hợp Công an phường Hiệp An phát hiện và lập bi n bản b t người phạm tội quả tang đối với Lê Hoàng N về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy tr n tay phải của N; vật chứng thu giữ gồm: 01 gói nylon và 01 ống hút nhựa b n trong chứa tinh thể màu tr ng; 01 xe mô tô kiểu dáng Dream, biển số 72H7-7892; 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu xanh. Cùng ngày, Công an phường Hiệp An chuyển hồ sơ vụ việc cùng đối tượng Lê Hoàng N và các vật chứng n u tr n đến Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố Thủ Dầu Một để xử lý theo thẩm quyền.
Ngày 17/4/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố Thủ
Dầu Một ra Quyết định trưng cầu giám định số 304/QĐ-CQ.CSĐT gửi đến Ph ng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bình Dương để: Giám định thành phần chất ma túy trong: 01 phong bì thư được ni m phong có chữ ký của người bị b t Lê Hoàng N, có chữ ký của cán bộ ni m phong Hồ Gia B và hình dấu tr n đỏ của Công an phường Hiệp An, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, b n trong bì thư có: 01 đoạn ống hút nhựa hàn kín, b n trong có chứa chất màu tr ng (M1) và 01 gói nylon hàn kín, b n trong có chứa chất màu tr ng (M2).
Ngày 25/4/2019, Ph ng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bình Dương
có Bản kết luận giám định số 323/MT-PC09, kết luận: Tinh thể màu tr ng trong 01 đoạn ống hút nhựa hàn kín, b n trong có chứa chất màu tr ng (M1) và 01 gói nylon hàn kín, b n trong có chứa chất màu tr ng (M2) trong 01 phong bì thư được ni m phong có chữ ký của người bị b t Lê Hoàng N, có chữ ký của cán bộ ni m phong Hồ Gia B và hình dấu tr n đỏ của Công an phường Hiệp An, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương là ma túy, có khối lượng 0,1326 gam (M1), loại Heroin và có khối lượng 0,3624 gam (M2), loại Methamphetamine.
Đối với 01 đoạn ống hút nhựa hàn kín, b n trong có chứa chất màu
tr ng (M1) và 01 gói nylon hàn kín, b n trong có chứa chất màu tr ng (M2), b n trong có ma túy, tr ng lượng sau giám định 0,1041 gam (M1) và 0,2146 gam (M2) đã thu giữ của Lê Hoàng N. Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố Thủ Dầu Một chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một để tịch thu, ti u hủy.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu xanh, quá trình điều
tra xác định: Đây là tài sản cá nhân của Lê Hoàng N, không li n quan đến hành vi phạm tội n n Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố Thủ Dầu Một chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một để trả lại cho Lê Hoàng N.
Đối với xe mô tô kiểu dáng Dream, biển số 72H7 – 7892, số máy
VMEPCG 00221080543, số khung VMWHC152FMH*011724*, quá trình điều tra, xác định: Xe mô tô tr n do L Hoàng N mua của người nam (không rõ nhân thân, lai lịch) và không làm thủ tục mua bán để sang t n chủ sở hữu. Ngày 22/4/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố Thủ Dầu Một xác minh tại Ph ng Cảnh sát giao thông, Công an tỉnh Bình Dương, xác định: Xe mô tô biển số 72H7 – 7892, có số khung PCG00221080543, số máy SD087129 do anh Thôi Kim Đ, sinh năm 1981, đăng ký hộ khẩu thường trú tại số 249, đường C, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đứng t n tr n Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô. Qua làm việc với anh Đ, xác định: Năm 2014, anh Đ đã bán xe mô tô biển số 72H7 – 7892, có số khung PCG00221080543, số máy SD087129 cho một người mua bán xe máy cũ nhưng không làm thủ tục mua bán để sang t n chủ sở hữu. Ngày 18/4/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Thủ Dầu Một ra Quyết định trưng cầu giám định số 347/QĐ-CQ.CSĐT gửi đến Ph ng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bình Dương để: Xác định loại xe, nhãn hiệu, số khung, số máy nguy n thủy của xe mô tô kiểu dáng Dream, biển số 72H7 – 7892,
số
máy
VMEPCG
00221080543,
số
khung VMWHC152FMH*011724*e. Ngày 20/5/2019, Ph ng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bình Dương có Kết luận giám định số 289-SKSM-PC09, kết luận: Xe mô tô kiểu dáng Dream, biển số 72H7 – 7892 có số khung, số máy l p ráp (Thông số kỹ thuật không trùng khớp khi tra cứu theo địa chỉ “Website về Thông số kỹ thuật xe mô tô, xe máy sản xuất l p ráp mới tại Việt Nam đã được Cục đăng kiểm Việt Nam chứng nhận”). Ngày 24/7/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố Thủ Dầu Một có Công văn số 507/CV-CQ.CSĐT-MT y u cầu Đài phát thanh và truyền hình tỉnh Bình Dương đăng báo truy tìm chủ sở hữu xe mô tô tr n. Ngày 29/7/2019, Trung tâm dịch vụ phát thanh truyền hình - Đài phát thanh và truyền hình tỉnh Bình Dương xác nhận đã phát sóng nội dung thông báo theo y u cầu của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố Thủ Dầu Một, tuy nhi n đến nay không ai đến li n hệ với Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố Thủ Dầu Một để giải quyết n n Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố Thủ Dầu Một chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một để tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Đối với người nữ t n L đã bán ma túy cho Lê Hoàng N, do không rõ nhân thân, lai lịch cụ thể n n Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố Thủ Dầu Một không có căn cứ điều tra làm rõ để xử lý.
Cáo trạng số 206/CT-VKS-HS ngày 16/9/2019 của Viện Kiểm sát
nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lê Hoàng N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại phi n t a, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một giữ nguy n quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Hoàng N mức hình phạt t 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
Về biện pháp tư pháp:
- Đối với 01 đoạn ống hút chứa ma túy (M1); 01 gói nylon chứa ma
túy (M2) tr ng lượng sau giám định 0,3187gam, theo Kết luận giám định số 323/MT-PC09 ngày 25/4/2019 là tang vật của vụ án n n đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu ti u hủy.
- Đối với xe mô tô đã qua sử dụng kiểu dáng Dream, biển số 72H7 –
7892,
số
máy
VMEPCG
00221080543,
số
khung VMWHC152FMH*011724* là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội n n đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu xanh, là tài sản cá
nhân của bị cáo Lê Hoàng N, không li n quan đến hành vi phạm tội nên đề nghị trả lại cho bị cáo .
Bị cáo Lê Hoàng N không có ý kiến tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét
xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Tr n cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phi n t a, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra vi n, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát vi n trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phi n t a, bị cáo, người tham gia tố tụng cũng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phi n t a, bị cáo Lê Hoàng N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với Bi n bản b t người phạm tội quả tang, Bi n bản lấy lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ li n quan, người chứng kiến, các lời khai trong quá trình điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận: Khoảng 17 giờ 45 phút ngày 17/4/2019 tại đoạn đường ĐX91 thuộc khu 5, phường Hiệp An, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Lê Hoàng N đã có hành vi tàng trữ ma túy có tr ng lượng 0,3624 gam loại Methamphetamine và 0,1326 gam loại Heroin, nhằm mục đích sử dụng thì bị phát hiện b t quả tang n n hành vi mà bị cáo Lê Hoàng N thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo với tội danh và điều khoản như tr n là có căn cứ và đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động quản lý của Nhà nước về ma túy và các chất gây nghiện; xâm phạm đến an ninh, trật tự xã hội tại địa phương. Hiện nay tội phạm về ma túy đang diễn biến phức tạp, là một trong những nguy n nhân dẫn đến các tội phạm khác. Do đó, để có tác dụng giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật, cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe và ph ng ng a tội phạm chung trong xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nam đã bị kết án, chưa được xóa án tích nay lại phạm tội mới với lỗi cố ý n n đã phạm vào tình tiết tăng nặng là tái phạm được quy định tại điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phi n t a, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, xét thấy mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp n n Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về vật chứng của vụ án:
- Đối với 01 đoạn ống hút nhựa hàn kín, b n trong có chứa chất màu
tr ng (M1) và 01 gói nylon hàn kín, b n trong có chứa chất màu tr ng (M2), b n trong có ma túy, tr ng lượng sau giám định 0,1041 gam (M1) và 0,2146 gam (M2), theo Kết luận giám định số 323/MT-PC09 ngày 25/4/2019 của Ph ng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bình Dương là tang vật của vụ án n n tịch thu ti u hủy.
- Đối với xe mô tô kiểu dáng Dream, biển số 72H7 – 7892, số máy
VMEPCG 00221080543, số khung VMWHC152FMH*011724* là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội n n tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu xanh, là tài sản cá
nhân của bị cáo Lê Hoàng N, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ tr n;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; Điều 38, Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 136, 260 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí T a án:
Tuy n bố bị cáo Lê Hoàng N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Hoàng N 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính t ngày 17/4/2019.
2. Về xử lý vật chứng của vụ án:
- Tịch thu ti u hủy 01 đoạn ống hút chứa ma túy (M1) và 01 gói nylon chứa ma túy (M2), tổng tr ng lượng sau giám định 0,3187, theo Kết luận giám định số 323/MT-PC09 ngày 25/4/2019.
- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô đã qua sử dụng
kiểu dáng Dream, biển số 72H7 – 7892, số máy VMEPCG 00221080543, số khung VMWHC152FMH*011724* (không kiểm tra chi tiết tình trạng hoạt động).
- Trả lại bị cáo L Hoàng N 01 điện thoại di động đã qua sử dụng hiệu
Nokia 105 màu xanh (không kiểm tra chi tiết tình trạng hoạt động).
(Thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng số 179.19 ngày 16/9/2019 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một và Công an thành phố Thủ Dầu Một).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Lê Hoàng N phải nộp 200.000đ.
4. Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày kể t ngày tuy n án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ li n quan v ng mặt tại phi n tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể t ngày nhận được bản án hoặc bản án được ni m yết công khai theo quy định của pháp luật. Nơi nhận:
TM HỘI ĐỒNG X T X SƠ THẨM
- TAND tỉnh Bình Dương;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Bình Dương;
- Công an tỉnh Bình Dương;
- VKSND thành phố Thủ Dầu Một;
- Công an thành phố Thủ Dầu Một;
- Chi cục THADS Tp. Thủ Dầu Một;
- Sở Tư Pháp tỉnh Bình Dương;
- Người tham gia tố tụng;
- Lưu HS, VP.
Nguyễn Duy Sinh CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Duy Sinh
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - Công an tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố Thủ Dầu Một; - Công an thành phố Thủ Dầu Một; - Chi cục THADS Tp. Thủ Dầu Một; - Sở Tư Pháp tỉnh Bình Dương; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS, VP. | TM HỘI ĐỒNG X T X SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Sinh |