- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Ngọc T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ T bố bị cáo Phạm Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái ph p chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 54 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| Bản án số: 208/2019/HS-ST Ngày: 10 - 10 - 2019 |
NHÂN DANH
- Thành phần ội đồng xét x sơ thẩm gồm có
Th m phán - Ch t a phi n t a: Ông Tôn Minh Hiền
Các H i th m nh n d n: Bà Trần Thị Thanh Xuân và bà Đoàn Thị Thanh Nhàn
- Thư k phiên t a Ông Nguyễn Văn Thuận, Thư ký Tòa án.
- ại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố uế tham gia phiên t a Ông Nguyễn Hữu Quỳnh, Kiểm sát viên .
Ngày 10 tháng 10 năm 2019, tại trụ s Tòa án nhân dân thành phố Huế x t x sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 165/2019/HSST ngày 30 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra x t x số 260/2019/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:
Phạm Ngọc T, sinh ngày 12/8/1991, tại tỉnh Quảng Trị; Nơi cứ trú: khu phố A, phường Đ, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Ngọc Hà (đã chết) và bà Nguyễn Thị Phương; vợ, con: chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/5/2019 đến nay. Có m t.
* Người làm chứng: Anh Hoàng Công Th, sinh năm 1994; địa chỉ: khu phố S, phường R, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị. Vắng m t.
Ụ :
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 14/4/2019, Phạm Ngọc T vào quán Bar TV đường Nguyễn Chí Thanh, thành phố Đà Nẵng chơi. Tại đây, T mua của một nam nhân viên (không rõ lai lịch) 01 viên ma túy tổng hợp (dạng kẹo) với giá 400.000 đồng. Sau khi mua, T đã s dụng một phần viên ma túy, phần còn lại T gói trong túi ni lông, rồi cất vào ví của mình nhằm mục đích để s dụng. Đến ngày 23/4/2019, T cùng bạn là anh Hoàng Công Th ra thành phố Huế chơi. Khi đi, T có mang theo số ma túy còn lại trước đó. T và anh Th ra Huế và đến thuê phòng 101 khánh sạn Venus địa chỉ 166 Phan Chu Trinh, phường Phước Vĩnh, thành phố Huế để nghỉ lại. Khoảng 00 giờ 40 phút ngày 24/4/2019, Phạm Ngọc T bị Công an thành phố Huế bắt quả tang đang tàng trữ trái ph p số ma túy nêu trên.
Vật chứng thu giữ: 01 gói ni lông màu trắng có viền đỏ, bên trong có chứa một mảnh viên n n màu vàng, đã được niêm phong theo quy định.
Tại bản kết luận giám định số 176/GĐ ngày 26/4/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thừa Thiên Huế kết luận: Mảnh viên n n màu vàng g i giam định có khối lượng 0,1518g là ma túy loại MDMA và Methaphetamine.
Hoàn lại đối thượng giám định là 0,0518g mẫu bột nghiền từ mảnh viên n n màu vàng và các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi g i giám định.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Phạm Ngọc T đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, công nhận việc kh i tố của Cơ quan điều tra và truy tố của Viện kiểm sát là đúng với hành vi của bị cáo.
Tại bản cáo trạng số 172/CT-VKS-HS ngày 29 tháng 7 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế truy tố bị cáo Phạm Ngọc T về tội “Tàng trữ trái ph p chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Huế đề nghị Hội đồng x t x :
- T bố bị cáo Phạm Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái ph p chất ma túy”.
- Về hình phạt: p dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 x phạt Phạm Ngọc T từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù.
- Về x lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 gói ma túy đã qua giám định.
- Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Ngọc T phải chịu theo quy định của pháp luật.
Ậ Ị
:
Trên cơ s nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng x t x nhận định như sau:
[1] Khoảng 00 giờ 40 phút ngày 24/4/2019, tại phòng 101 khánh sạn Venus địa chỉ 166 Phan Chu Trinh, phường Phước Vĩnh, thành phố Huế, Phạm Ngọc T đang tàng trữ 0,1518g ma túy loại Methaphetamine và MDMA nhằm mục đích s dụng thì bị bắt quả tang. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế truy tố Phạm Ngọc T về tội “Tàng trữ trái ph p chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2] Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái ph p chất ma túy để s dụng là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vì ăn chơi đua đòi nên bị cáo đã phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo đã gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy, trực tiếp ảnh hư ng xấu đến sức kho của con người, sự phát triển của nòi giống và làm tăng tệ nạn xã hội, gây ảnh hư ng xấu đến trật tự, an toàn xã hội.
[3] Xét nhân thân, các tình tiết tăng n ng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng: Bị cáo Phạm Ngọc T không có tiền án, tiền sự; không phạm vào tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự nào; trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa đều khai báo thành khẩn, thể hiện thái độ ăn năn hối cải nên được hư ng hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
X t thấy rằng, trong vụ án này Phạm Ngọc T không phải là đối tượng nghiện ngập, s dụng ma túy do đua đòi, chỉ tàng trữ ma túy với trọng lượng nhỏ; có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 nên cần áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, x phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa.
[4] Về x lý vậy chứng: 01gói ma túy đã qua giám định là chất cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
[6] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận điều tra và bản cáo trạng nên các hành vi, quyết định của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
Q Y
Ị :
1/ T bố bị cáo Phạm Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái ph p chất ma túy”.
p dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015;
X phạt bị cáo Phạm Ngọc T 09 (chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 20/5/2019.
2/ Về x lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
Tịch thu tiêu hủy 01 gói ma túy đã qua giám được niêm phong bằng giấy trắng bên ngoài có ghi hoãn mẫu vụ: Phạm Ngọc T bắt ngày 24/4/2019 và 02 ghi họ tên chữ ký của Giám định viên Trần Nam, 02 chữ ký ghi họ tên Trần Quốc Cường và 02 dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thừa Thiên Huế.
Vật chứng trên được xác định theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/7/2019 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Huế và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế.
3. Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội
Buộc bị cáo Phạm Ngọc T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
n sơ thẩm x t x công khai, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày T án.
| Nơi nhận . - TAND tỉnh Thừa Thiên Huế; - S tư pháp tỉnh TT Huế; - Phòng PV 06 CA tỉnh TT Huế; - VKSND TP Huế; - CA thành phố Huế; - Chi cục THADS thành phố Huế; - Bị cáo; - Lưu. | Ồ É Ử SƠ Ẩ ẩm á - ủ tọa iê tòa ô i iề |