- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp Hôn nhân"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp và quản lý, sử dụng …
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 208/2019/HNGĐ-ST Ngày 23 tháng 10 năm 2019 V/v: Tranh chấp Hôn nhân gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH NA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông: Thái Trường Giang
Các Hội thẩm nhân dân
1, Ông: Nguyễn Đăng Lĩnh
2, Bà: Nguyễn Thị Cảnh.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà : Bà: Trần Thị Anh Thư - Thư ký Toà án nhân dân huyện TC, tỉnh NA.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TC, tỉnh NA tham gia phiên tòa: Bà: Nguyễn Thị Phương Thùy - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 10 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện TC xét xử công khai vụ án thụ lý số 134/ 2019/TLST-HNGĐ, ngày 04 tháng 6 năm 2019 về việc Tranh chấp Hôn nhân gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2019/QĐST-HNGĐ, ngày 09 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Hồ T.K, sinh năm 1989; Địa chỉ: Xóm 17, xã TT, huyện TC, tỉnh NA.
Chỗ ở hiện nay: Xóm 3, xã ST, huyện HS, tỉnh HT
Có mặt tại phiên tòa.
Bị đơn: Anh Lê V.C, sinh năm 1985; Địa chỉ: Xóm 17, xã TT, huyện TC, tỉnh NA.
Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện, trong bản tự khai và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Hồ T.K trình bày:
Chị và anh Lê V.C kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện có được tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TT, huyện TC, tỉnh NA vào ngày 14 tháng 02 năm 2008. Sau khi kết hôn xong vợ chồng về làm ăn sinh sống tại xóm 17, xã TT, huyện TC, tỉnh NA. Cuộc sống chung của hai người hạnh phúc cho đến đầu năm 2015 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và cũng kể từ đó vợ chồng sống ly thân cắt đứt mọi quan hệ cho đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn là do trong cuộc sống tính tình không hợp nhau dẫn đến thường xuyên cãi vã lẫn nhau. Mặc dù đã được chính quyền địa phương tiến hành hòa giải nhưng đều không có kết quả.
Nay chị xét thấy tình cảm không còn nữa nên nguyện vọng của chị là muốn được ly hôn với anh Lê V.C.
Về nuôi con chung: Vợ chồng chị có 2 con chung
Lê T.H.T, sinh ngày 05 tháng 10 năm 2007 và Lê H.P.T, sinh ngày 15 tháng 10 năm 2014. Nay ly hôn, nguyện vọng của chị là muốn được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê H.P.T còn anh Lê V.C trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê T.H.T. Không bên nào phải góp cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
Về phân chia tài sản: Chị không yêu cầu giải quyết.
Về nợ: Vợ chồng chị không nợ gì ai và cũng không ai nợ gì vợ chồng.
Ý kiến của bị đơn anh Lê V.C.
Anh hoàn toàn thừa nhận điều kiện kết hôn của vợ chồng đúng như chị Hồ T.K đã trình bày. Sau khi kết hôn với nhau vào ngày 14 tháng 2 năm 2008 tại Ủy ban nhân dân xã TT, huyện TC, tỉnh NA xong vợ chồng anh về chung sống với nhau hạnh phúc cho đến đầu năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn và cũng kể từ đó vợ chồng sống ly thân cắt đứt mọi quan hệ cho đến nay.
Nguyên nhân mâu thuẫn theo anh là do tính tình vợ chồng sống không hợp nhau. Nay anh xét thấy tình cảm không còn nữa nên việc chị Hồ T.K xin ly hôn thì anh hoàn toàn nhất trí.
Về trách nhiệm nuôi con chung: Anh thừa nhận vợ chồng anh có 2 con chung Lê T.H.T, sinh ngày 05 tháng 10 năm 2007 và Lê H.P.T, sinh ngày 15 tháng 10 năm 2014. Nay ly hôn, nguyện vọng của anh là muốn trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con và không yêu cầu chị Hồ T.K góp cấp dưỡng nuôi con cho anh.
Về phân chia tài sản: Anh không yêu cầu giải quyết.
Về nợ: Vợ chồng anh không nợ gì ai và cũng không ai nợ gì vợ chồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TC, tỉnh NA phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý giải quyết cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án hoàn toàn tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 28, Điều 35, Điều 147, Bộ luật tố tụng dân sự các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình, xử:
Về tình cảm: Chị Hồ T.K được ly hôn với anh Lê V.C.
Về con chung: Giao cháu Lê T.H.T, sinh ngày 05/10/2007 cho anh Lê V.C trực tiếp nuôi dưỡng. Giao cháu Lê H.P.T, sinh ngày 15/10/2014 cho chị Hồ T.K trực tiếp nuôi dưỡng. Không bên nào phải góp cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
Về tài sản chung và nợ: Không có yêu cầu nên không xem xét.
Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp và quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc chị Hồ T.K phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án Tranh chấp Hôn nhân gia đình được quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Cho nên việc thụ lý, giải quyết thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh NA. Về việc vắng mặt của bị đơn anh Lê V.C tại phiên tòa hôm nay. Đây là phiên tòa được đưa ra xét xử lần thứ 2. Tại phiên tòa ngày 09 tháng 10 năm 2019 mặc dù anh Lê V.C đã nhận được Quyết định đưa vụ án ra xét xử, nhưng anh vẫn vắng mặt không có lý do. Cho nên Hội đồng xét xử xét thấy việc xét xử vắng mặt bị đơn anh Lê V.C là phù hợp với Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Cuộc hôn nhân giữa chị Hồ T.K và anh Lê V.C là hôn nhân hợp pháp. Hai bên kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện có được tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TT, huyện TC, tỉnh NA vào ngày 14 tháng 02 năm 2008 theo quy định. Sau khi kết hôn xong cuộc sống chung vợ chồng hạnh phúc không được bao lâu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do tính tình không hợp nhau. Nay cả chị Hồ T.K và anh Lê V.C xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên đều nhất trí ly hôn nhau, nên việc xử cho chị Hồ T.K được ly hôn với anh Lê V.C là phù hợp.
Về trách nhiệm nuôi con: Hai bên thống nhất vợ chồng có 2 con chung là Lê T.H.T, sinh ngày 05/10/2007 và Lê H.P.T, sinh ngày 15/10/2014. Nay ly hôn nguyện vọng của anh Lê V.C là muốn được trực tiếp chăm sóc cả hai con và không yêu cầu chị Hồ T.K phải góp cấp dưỡng nuôi con cho anh, còn chị Hồ T.K có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê H.P.T còn anh Lê V.C trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê T.H.T. Không bên nào phải góp cấp dưỡng nuôi con cho nhau. Xét yêu cầu của các bên là hoàn toàn chính đáng. Nhưng nếu giao cả 2 con cho anh Lê V.C trực tiếp nuôi dưỡng thì sẽ gây khó khăn cho bản thân anh và các con. Cho nên cần chấp nhận đề nghị của chị Hồ T.K là giao cháu Lê H.P.T, sinh ngày 15/10/2014 cho chị Hồ T.K trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu Lê T.H.T, sinh ngày 05/10/2007 cho anh Lê V.C nuôi dưỡng là phù hợp và không bên nào phải góp cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
Về phân chia tài sản chung: Hai bên không ai có yêu cầu nên không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn chị Hồ T.K phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Về ý kiến phát biểu của Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện TC, tỉnh NA tại phiên tòa. Xét thấy việc tuân theo quy định pháp luật và các nội dung liên quan đến việc giải quyết vụ án là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp và quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:
Về hôn nhân: Chị Hồ T.K được ly hôn với anh Lê V.C
Về trách nhiệm nuôi con: Giao con chung của vợ chồng là cháu Lê H.P.T, sinh ngày 15/10/2014 cho chị Hồ T.K trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu Lê T.H.T, sinh ngày 05/10/2007 cho anh Lê V.C nuôi dưỡng. Không bên nào phải góp cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghÜa vô thăm nom con mà không ai được quyền cản trở người đó thực hiện quyền này.
Về chia tài sản chung và nợ: Không có yêu cầu nên không xem xét
Về án phí: Buộc chị Hồ T.K phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0006575 ngày 04 tháng 6 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện TC, tỉnh NA. Chị Hồ T.K đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận : - TAND tỉnh NA - VKS huyện TC - Chi cục THA dân sự huyện TC. - UBND xã TT - Các đương sự - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Thái Trường Giang |