- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Hồng H được ly hôn anh Trần Văn Tứ D.
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| Bản án số: 208/2019/HNGĐ-ST Ngày: 09 /9/2019 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn ” |
NHÂN DANH
-
:
-
:
:
1. Ông Lê Văn Bích
2. Ông Lê Tiến Dũng.
-
: Ông Võ Tấn Tiến là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ.
-
: Ông Lê Thanh Bình - Kiểm sát viên.
09
9 năm 2019
141/2019/TLST- HNGĐ
01/7/2019 “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo
1138 /2019/QĐXX- ST
02
8 năm 2019
:
-Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng H, sinh năm 1982, có mặt
Địa chỉ: Thôn D, thị trấn G, huyện U, tỉnh Bình Định.
-
: Anh Trần Văn Tứ D, sinh năm 1985, vắng mặt
Địa chỉ: Thôn Đ, xã L, huyện U, tỉnh Bình Định.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 18/6/2019
Nguyễn Thị Hồng H
:
Về hôn nhân: Chị H đăng ký kết hôn với anh Trần Văn Tứ D tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện U, tỉnh Bình Định
01/3/2016 (Giấy chứng nhận kết hôn số 12). Sau khi kết hôn vợ chồng chị H, anh D sống hạnh phúc một thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn vợ chồng mà nguyên nhân chính là do anh D có hành vi bạo lực gia đình, cụ thể là anh D hay đánh chị H và mỗi lần như vậy anh D dùng dao, rựa đe dọa giết chị H. Anh sống không có trách nhiệm với gia đình mà còn thường xuyên chửi, xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của Chị. Từ đó, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn nên Anh, Chị đã ly thân từ đầu năm 2018 cho đến nay. Nay chị H xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, Chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho Chị được ly hôn anh D.
Về nuôi con chung: Vợ chồng có một con chung là Trần Hồng N, sinh ngày 09 tháng 5 năm 2018. Hiện con đang ở với chị H. Ly hôn, chị H yêu cầu được nuôi cháu N, không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con.
Về chia tài sản: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nghĩa vụ về tài sản: Không có.
Tại bản khai đề ngày 03/7/2019 anh Trần Văn Tứ Duy trình bày:
Về hôn nhân: Anh thừa nhận về thời gian, điều kiện, hoàn cảnh kết hôn như chị H trình bày là đúng. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chung sống trong một thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn vợ chồng mà nguyên nhân chính là do chị H tự ý bỏ về nhà cha mẹ Chị ở; từ đó Anh Chị đã sống ly thân. Nay anh D xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên anh đồng ý ly hôn chị H.
Về nuôi con chung: Vợ chồng có một con chung là cháu N như chị H trình bày. Ly hôn, anh D đồng ý giao cháu N cho chị H nuôi, anh D không cấp dưỡng nuôi con.
Về chia tài sản: Giữa anh D và chị H không có tài sản chung nên anh D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nợ chung: Không có.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
.Về hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về con chung: Giao con chung cho chị H nuôi dưỡng. Về tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản: Không xét. Về án phí: Chị H phải chịu theo quy định của luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ nhận định:
Về tố tụng: Anh Trần Văn Tứ D đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh D theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Hôn nhân của chị Nguyễn Thị Hồng H và anh Trần Văn Tứ D là hôn nhân hợp pháp. Sau một thời gian chung sống vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn , nguyên nhân chính là do anh D không có trách nhiệm với vợ con mà còn có hành vi bạo lực gia đình. Từ đó, tình cảm vợ chồng lạnh nhạt, mâu thuẫn gia đình ngày càng căn thẳng. Hiện tại chị H, anh D đã sống ly thân từ đầu năm 2018 cho thấy tình cảm vợ chồng chị H, anh D thực sự không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử xét thấy nếu có duy trì, bảo vệ hạnh phúc của chị H, anh D chắc chắn không mang lại kết quả gì. Do đó, căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận cho chị H được ly hôn anh D.
Về nuôi con chung: Chị H và anh D có một con chung là cháu Trần Hồng N, sinh ngày 09 tháng 5 năm 2018. Hiện cháu N đang ở với chị H. Ly hôn, chị H yêu cầu được nuôi cháu N, không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy, hiện cháu N dưới ba mươi sáu tháng tuổi và đang có cuộc sống ổn định với chị H. Do vậy, để đảm bảo và ổn định cuộc sống của cháu nên giao cháu N cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Chị H không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét.
Anh D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không được ai cản trở, nhưng anh D không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con của chị H. Khi cần thiết chị H, anh D đều có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con.
Về chia tài sản: Chị H và anh D đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Nghĩa vụ về tài sản: Không có.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hồng H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí sơ thẩm ly hôn
H
0000842
01/7/2019
.
,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dựng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Hồng H được ly hôn anh Trần Văn Tứ D.
2. Về nuôi con chung: Giao con chung là Trần Hồng N, sinh ngày 09 tháng 5 năm 2018 cho chị Nguyễn Thị Hồng H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị H không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con.
Anh D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không được ai cản trở, nhưng anh D không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của chị H. Khi cần thiết chị H, anh D đều có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về chia tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản: Hội đồng xét xử không xét.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hồng H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí sơ thẩm ly hôn
H
.
Chị H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo của anh D tính từ ngày anh D nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện U, tỉnh Bình Định.
: -
;
| - ; -UBND xã L; - ; -Lưu HS, VP. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) |