vanban.org

Bản án 208/2019/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Bến Tre Tuyên án 28/06/2019 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/06/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 77/2018/DS-ST ngày 19 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huy n Ch Th, tỉnh B n Tre.

Về án phí: Trả lại cho anh Nguy n Tấn L số tiền tạm ứng án phí đ nộp là 300.000 đ ng (Ba trăm nghìn đ ng) theo biên lai thu số 0020549 của Chi cục Thi hành án huy n Ch Th, tỉnh B n Tre. Bản án phúc thẩm có hi u lực kể từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Phạm Thị Nh - Nguyễn Tấn L"
  • Tòa quyết gì? Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 77/2018/DS-ST ngày 19 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huy n Ch Th, tỉnh B n Tre.
  • Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 208/2019/DS-PT
Ngày: 28/6/2019
V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử ph thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguy n Th H ng

Các hẩ h n:

Ông Phạm Văn Ngọt

Ông Bùi Th Xương

- Thư ký phiên toà: Bà B i Th Th y ung Thư Tòa án nhân dân tỉnh B n Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân t nh B n Tre tham gia phiên tòa: Bà Nguy n Th Minh Phượng – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2019, tại hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh B n Tre xét xử ph c thẩm công khai vụ án thụ lý số: 164/2019/TLPT-DS ngày 17 tháng 4 năm 2019 về tranh chấp quyền sử dụng đất.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 77/2018/DS-ST ngày 19 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huy n Ch Th tỉnh B n Tre b kháng cáo.

Theo Quy t đ nh đưa vụ án ra xét xử số: 131/2019/QĐ-PT ngày 18 tháng 4 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ch Phạm Th Nh sinh năm 1985;

Trú tại: Số nhà 37, ấp H1 L, xã G H1, huy n Ch Th, tỉnh B n Tre.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ch Nguy n Th Mỹ H, sinh năm 1982; trú tại: p M A C, xã M Th A, th nh phố B T, tỉnh B n Tre; l người đại di n theo ủy quyền văn bản ủy quyền ngày 22 tháng 12 năm 2016; có mặt.

2. Bị đơn: Anh Nguy n Tấn L sinh năm 1974;

Ch Nguy n Th H ng Nh1 sinh năm 1987;

Cùng trú tại: p H1 L, xã G H1, huy n Ch Th, tỉnh B n Tre.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Anh Huỳnh Ngọc L sinh năm 1990; trú tại: p P X P T huy n Ch Th, tỉnh B n Tre; l người đại di n theo ủy quyền văn bản ủy quyền ngày 23 tháng 12 năm 2016; có mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. B Nguy n Th Ngọc H1 sinh năm 1947;

Trú tại: ố nh 15/29/18 đường số 59 phường 14, quận G1 V Th nh phố H Chí Minh; có mặt.

3.2. B Nguy n Th Ngọc Y sinh năm 1955;

Trú tại: ố nh 41/30 đường số 3 phường 9, quận G1 V Th nh phố H Chí Minh, có mặt.

3.3. Bà Nguy n Th Lan H sinh năm 1970;

3.4. Ông Nguy n Tấn Đ sinh năm 1967;

Cùng trú tại: p H1 L, xã G H1, huy n Ch Th, tỉnh B n Tre.

Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Lan H, Nguyễn Tấn Đ: Anh Huỳnh Ngọc L sinh năm 1990; trú tại: p Ph Xuân, xã Phú Túc, huy n Ch Th, tỉnh B n Tre; l người đại di n theo ủy quyền, văn bản ủy quyền ngày 08 tháng 3 năm 2017; có mặt.

3.5. Ủy ban nhân dân huy n Ch Th, tỉnh B n Tre.

Người đại diện theo pháp luật: Ông ương Văn Ph c - Chủ t ch Ủy ban nhân dân huy n Ch Th; có đơn yêu cầu giải quy t vắng mặt.

4. Người h ng c : B đơn ông Nguy n Tấn L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm;

ại đơn hởi iện, tr ng qu trình tố tụng tại tòa n và tại hiên tòa sơ thẩ , người đại diện the ủy quyền của nguyên đơn à chị Nguyễn hị Mỹ H trình bày:

V o năm 2002 cha mẹ ch Nh là ông Phạm Văn Th1 và bà Trần Th S có mua phần đất 6.000m2 đất vườn, tọa lạc tại ấp H1 L, xã G H1, huy n Ch Th, tỉnh B n Tre của bà Nguy n Th Ngọc H1 và bà Nguy n Th Ngọc Y ngụ cùng ấp. L c đó trên phần đất này bà H1 và bà Y có cho bà Nguy n Th Thu Cúc (tên gọi hác l Tư C) cất nhà ở nhờ trên phần đất n y. L c đó hi n trạng căn nh l nh cây, nền đất b Tư C chỉ ở một mình.

Sau khi bà H1 và bà Y bán đất cho cha mẹ ch Nh thì b Tư C có in cha mẹ ch Nh cho bà ở nhờ trên đất đ n h t đời, sau khi bà mãn phần thì các con bà sẽ trả lại phần đất này. Vì thấy b Tư C cũng chất phát, hiền lành lại đang đau b nh cũng vì tình l ng nghĩa óm nên cha mẹ ch Nh thương tình v đ ng ý cho b Tư C ở nhờ đ n h t đời b Tư C.

V o năm 2008 thì cha mẹ ch Nh đ cho ch Nh phần đất này, ch Nh lập hợp đ ng chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ bà Y, bà H1 v được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng phần đất di n tích 1.306,2m2, thuộc thửa 2550, tờ bản đ số 01, trên đất ch Nh có nhà của b Tư C. Đ n năm 2012 b Tư C qua đời con trai b Tư C l anh Nguy n Tấn L cùng vợ là ch Nguy n Th H ng Nh1 về ở trên ngôi nhà của b Tư C hông ch u dọn đi m còn ây nh lại, trán nền i măng iên cố. Nhiều lần ch Nh có nhắc nhở đòi đất, yêu cầu anh L và ch Nh1 di dời nh trên đất, thực hi n lời hứa của b Tư C nhưng phía anh L, ch Nh1 không thực hi n. Ch Nh khởi ki n anh L, ch Nh1, UBND xã G H1 ti n hành giải quy t nhưng hông th nh. Tại biên bản hòa giải xã G H1, anh L có xác nhận là ở nhờ trên phần đất của ch Nh v đề ngh ch Nh bán phần đất nền nhà này lại cho anh L nhưng ch Nh hông đ ng ý vì anh L còn đất khác ở cùng ấp và v trí nhà anh L với ch Nh1 đang ở chi m gần h t phần mặt tiền đất của ch Nh.

L c mua đất b

hông đủ tiền nên có nói b Tư C mua phần có ngôi nhà của mình nhưng b Tư C hông có tiền b Tư C êu b mua đất cho bà Tư C ở nhờ đ n h t đời, con cháu bà sẽ trả lại. Thấy b Tư C đ gi lại còn b nh nên b đ mua trọn phần đất n y v đ ng cho b Tư C ở nhờ đ n h t đời. Bà mua đất của bà H1 và bà Y nhưng do hông đủ tiền trả một lần nên chưa l m thủ tục sang tên, bà S quản l đ n năm 2008 b mới cho đất cho 03 người con là Phạm Văn Th2, Phạm Văn Th3 và ch Phạm Th Nh. Ch Nh được cho phần đất di n tích 1.306,2m2 và hợp đ ng chuyển nhượng thực hi n trực ti p từ bà H1, bà Y. Chính vì vậy nên hợp đ ng chuyển nhượng không có tên bà S và ông Th1 nhưng vi c mua bán này có làm giấy tay riêng giữa bà Y, bà H1 với bà Sen, ông Th1. Hi n tại hộ khẩu của nhà anh L có anh Nguy n Tấn L, ch Nguy n Th H ng Nh1, b Nguy n Th Lan H, ông Nguy n Tấn Đ.

Nay ch Nh khởi ki n yêu cầu Tòa án giải quy t buộc anh Nguy n Tấn L, ch Nguy n Th H ng Nh1 và những người trong hộ phải di dời nhà và các công trình ki n tr c trên đất, trả lại cho ch Nh phần đất thuộc một phần thửa đất số 424 tờ bản đ số 06 (thửa cũ l 2550 tờ bản đ số 01) di n tích theo k t quả đo đạc thực t là 131,6m2 đất tọa lạc tại ấp H1 L, xã G H1, huy n Ch Th, tỉnh B n Tre. Ch Nh đ ng ý hỗ trợ chi phí di dời nhà cho anh L và ch Nh1 là 10.000.000 đ ng.

Nguyên đơn thống nhất với k t quả thu thập chứng cứ, k t quả đo đạc, đ nh giá của Tòa án.

ại đơn hản tố ngày 23/12/2016, đơn hản tố bổ sung và tr ng qu trình tố tụng tại òa n và tại hiên tòa sơ thẩ , người đại diện the ủy quyền của bị đơn à anh Huỳnh Ngọc L trình bày:

V o hoảng tháng 6/1975 ông Nguy n Văn T1 (Tám T1 - l cha của b Y và bà H1) cho mẹ ruột anh L l b Nguy n Th Thu C một phần đất di n tích hoảng 300m2 để cất nh ở chăn nuôi v tr ng cây ung quanh nh . au hi nhận đất ông T1 cho gia đình anh L thực hi n tốt các nghĩa vụ do đ a phương yêu cầu như thu nh đất cho nh nước từ năm 1980 đ n năm 2013 (có ác nhận của ông Ph ng Văn H – Trưởng ấp H1 L) nộp tiền giao thông nông thôn v đăng hộ hẩu thường tr tại số nh 28 ấp H1 L, xã G H1 huy n Ch Th, tỉnh B n Tre.

Đ n năm 1987 cha ruột anh L mất 02 anh trai của anh đi nghĩa vụ tại chi n trường Campuchia do nh đông con v còn nhỏ nên cuộc sống gặp hó hăn nh b hư dột. Thấy vậy ông Tám T1 êu b C độn mương đốn cây cất nh rộng ra để ở được sự gi p đỡ của người thân nên b C cất lại căn nh iên cố nền trán i măng tr ng cây lâu năm ung quanh nh sinh sống ổn đ nh cho đ n nay.

Từ hi ông Tám T1 cho đất cất nh cho đ n hi mất ông Tám T1 không có i n gì cũng như yêu cầu đòi lại đất các con ông Tám T1 hông có i n cũng như hông có tranh chấp với gia đình anh L. Tuy nhiên, sau khi ông Tám T1 mất các con ông Tám phân chia di sản thừa v chuyển nhượng phần đất n y tại thửa 2550 tờ bản đ số 01 cho ch Phạm Th Nh trên đất có nh của gia đình anh L nhưng hông thông báo cho gia đình anh L được bi t.

Đ n năm 2012 mẹ anh L mất l c n y b Phạm Th (mẹ ruột ch Nh) đ n yêu cầu gia đình anh L di dời nh trả đất cho con b b tự thu hoạch huê lợi v đốn một số cây tr ng do gia đình anh L tr ng. Anh L hông đ ng di dời v ngăn cản hông cho b thu hoạch cũng như đốn cây vì phần đất n y ông Tám T1 đ cho gia đình anh L, những người cao niên trong ấp H1 L đều bi t.

Phần đất tranh chấp thuộc một phần thửa 2550 tờ bản đ số 01, di n tích hoảng 300m2 tọa lạc tại ấp H1 L, xã G H1 huy n Ch Th tỉnh B n Tre đ được ông Tám T1 cho cha mẹ anh L từ tháng 6/1975 đ n nay cha mẹ anh L đ cất nh tr ng cây lâu năm v thực hi n nghĩa vụ đóng thu đối với nh nước sinh sống ổn đ nh trên đất m ông Tám T1 và các con ông Tám hông có tranh chấp gì nên phần đất n y thuộc quyền sử dụng của anh L. o đó anh L v ch Nh1 phản tố yêu cầu điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ch Nh và yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng đất phần đất thuộc một phần thửa 424 tờ bản đ số 06 (thửa cũ l 2550 tờ bản đ số 01) di n tích theo đo đạc thực t là 274,1m2 tọa lạc tại ấp H1 L, xã G H1 huy n Ch Th tỉnh B n Tre thuộc quyền sử dụng của anh L v ch Nh1. Hi n tại hộ hẩu của nh anh L có anh Nguy n Tấn L, ch Nguy n Th H ng Nh1, b Nguy n Th Lan H, ông Nguy n Tấn Đ. B H và ông Đ thống nhất giao quyền cho anh L v ch Nh1 quy t đ nh.

B đơn phản tố bổ sung yêu cầu Tòa án hủy hợp đ ng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ng y 14/3/2008 giữa b Nguy n Th Ngọc H1 b Nguy n Th Ngọc Y với ch Phạm Th Nh tại thửa 2550 (tách thửa 841) tờ bản đ số 01 (thửa mới 424 tờ bản đ số 06) di n tích 1.306 2m2 đất tọa lạc tại G H1, huy n Ch Th tỉnh B n Tre v yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huy n Ch Th tỉnh B n Tre cấp cho b Phạm Th Nh vào ngày 25/4/2008 tại thửa 2550 (tách thửa 841) tờ bản đ số 01 (thửa mới 424 tờ bản đ số 06) di n tích 1.306 2m2 đất tọa lạc tại G H1 huy n Ch Th tỉnh B n Tre.

B đơn thống nhất với k t quả thu thập chứng cứ của Tòa án.

Người có quyền ợi, nghĩa vụ iên quan bà Nguyễn hị Ngọc Y và bà Nguyễn hị Ngọc H1 cùng có ời trình bày:

Ngu n gốc phần đất hi n nay bà Phạm Th Nh tranh chấp với anh Nguy n Tấn L, ch Nguy n Th H ng Nh1 là của ông Nguy n Ngọc T1 (tên thường gọi là Tám T1) là cha của bà v b H1. Hai bà sống chung với cha từ nhỏ sau đó cha có l m di ch c cho đất cho hai b . Năm 2000, cha bà mất, hai bà ti p tục sinh sống trên phần đất này và làm thủ tục nhận thừa k đ n năm 2005 đ được cấp chủ quyền.

Ngày 23/10/2002, bà H1 làm giấy tay bán đất vườn cho ông Phạm Văn Th1 (cha của bà Phạm Th Nh) 03 công đất vườn l c đó b Y đi dạy không có nhà nên một mình bà H1 làm giấy. au đó đ n ngày 27/02/2004, bà Y ti p tục làm giấy bán đất cho ông Phạm Văn Th1 03 công đất, tổng cộng l 06 công đất giá 18 cây vàng SJC, tờ giấy này bà Y ký tên một mình do l c đó b H1 b nh không về được. Nội dung lập tờ Giấy bán đất sau n y l để bi t ông Th1 có trả ti p cho bà 09 cây vàng. Vào năm 2004 2005 b Trần Th S (vợ ông Th1) ti p tục trả vàng cho bà nên bà có làm giấy nhận vàng cho bà S. Chữ ký và chữ vi t trong các tờ giấy mua bán đất và nhận v ng đều là của bà Y và bà H1. Mục đích làm các tờ giấy n y như l biên nhận có nhận vàng của ông Th1 và bà S.

Khi mua bán đất v o năm 2002 thì hai b đ giao đất cho ông Th1 và bà S v o canh tác ông b cũng đ đ n đất ở và tr ng thêm cây trên đất từ năm 2002. Tuy nhiên lúc này bà S và ông Th1 chưa trả đủ vàng cho hai bà. au đó đ trả đủ vàng cho hai bà nên hai bà ti n hành làm thủ tục sang tên cho bà Phạm Th Nh v o năm 2008. Vi c mua bán thì hai bà thực hi n với ông Th1 v b nhưng làm thủ tục sang tên qua bộ thì sang trực ti p cho các con của b trong đó có bà Phạm Th Nh, do bà S yêu cầu như vậy nên hai b cũng đ ng vì l c đó ông Th1, bà S ti n h nh cho đất cho các con.

Khoảng năm 1976 b Nguy n Th Thu C (tên thường gọi l Tư C) c ng các con nhỏ của b được cha bà cho đ n đất ở nhờ. Khi đ n đất cha bà ở thì trên đất đ có sẵn căn nh của người ở nhờ trước cũng được cho ở nhờ bỏ lại nên cha b cho b C v o căn nh đó ở tạm. L c đó cha b chỉ cho bà C ở nhờ tại căn nh này (nhà di n tích nhỏ chỉ khoảng 40m2) chứ b C hông được thu huê lợi hay xây dựng thêm công trình n o hác ngo i huôn viên nh . L c đó chỉ nói mi ng chứ không có lập th nh văn bản. Sau này thì bà C tự ý mở rộng khuôn viên nhà, đốn dừa và xây chu ng heo, di n tích mở rộng nhà hi n trạng vẫn còn như hi n nay. Vi c bà C xây mở rộng khuôn viên nhà là bà C tự ý thực hi n chứ phía gia đình b hông đ ng . Gia đình b cũng có đ n gặp b C để ngăn cản bà C xây mở rộng nhưng hông có báo với chính quyền đ a phương và thấy bà C ở cũng hó hăn nên hông i n gì nữa.

Khi bà C ở trên căn nh đó được khoảng 10 năm thì cha b v b cũng có đ n gặp b C để nói lấy lại nh v đất, yêu cầu gia đình b C dọn đi nhưng do b C còn hó hăn v in được ở lại nên gia đình b thương tình cho ti p tục ở trên đất. L c đó l b C chỉ ở một mình, các con của b C đ đi l m ăn a h t, chỉ có một người con gái ở gần chạy đ n thăm nom v cơm nước.

Sau khi cha bà mất v o năm 2000 thì hai b được thừa hưởng toàn bộ phần đất cha b cho. Khi đó cha b hông có đề cập gì đ n phần đất cho bà C ở nhờ vì sự vi c cho ở nhờ này hai b cũng có bi t. Cha bà chỉ cho bà C ở nhờ nên cha b hông sang tên đất cho b C. Năm 2002 hi hai b chuẩn b bán đất cho b thì hai b v b cũng có đ n gặp b C để nói bà C trả lại nh v đất cho hai b để hai b bán đất hoặc n u bà C muốn ở ti p tục trên đất thì hai b cũng đ ng ý bán phần đất n y cho b C nhưng b C hông có hả năng mua v l c đó b C cũng đang b nh nên hai b v b cũng đ ng ý cho bà C ti p tục ở nhờ trên đất. Khi đó b C cũng có hứa là sẽ ở đ n h t đời b sẽ trả lại nhà và đất cho bà S. Do bà C có lời hứa như vậy nên bà S, ông Th1 mới yên tâm mà mua phần đất này của hai bà. Tuy nhiên, vi c thỏa thuận này chỉ nói mi ng chứ không có lập th nh văn bản. Sau khi bà S, ông Th1 mua đất xong thì ho n cảnh bà C vẫn còn hó hăn nên gia đình b vẫn thương tình cho bà C ở nhờ trên đất đ n h t đời.

Hi n tại hai bà ở Thành phố H Chí Minh nhưng vẫn về quê thường xuyên vì gia đình v đất đai còn ở đây.

Sau khi bà C mất, anh Nguy n Tấn L là con và ch Nguy n Th H ng Nh1 là dâu của bà C về ti p tục ở trên đất này, chi m luôn phần đất v căn nh không trả đất lại cho bà S và ch Nh.

Nguyên đơn ch Nh có chủ quyền v được hai bà chuyển nhượng hợp pháp nên vi c ch Nh yêu cầu anh L và ch Nh1 trả lại phần đất chi m dụng này l đ ng.

Đối với yêu cầu hủy hợp đ ng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa hai bà với ch Nh thì hai b hông đ ng đất hai bà chuyển nhượng cho ch Nh là đất được thừa k của cha v được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chứ đất của hai bà không phải đất hoang. Bà C ở trên đất chỉ l được cha bà cho ở nhờ, ở tạm, anh L v ch Nh1 tự ý về ở trên đất chứ hông ai đ ng ý cho anh L v ch Nh1 ti p tục ở. Thủ tục sang tên đất của hai bà qua cho ch Nh l đ ng thủ tục và trình tự theo quy đ nh của pháp luật về đất đai.

Vì lý do lớn tuổi và sức khỏe y u nên hai b đề ngh Tòa án giải quy t vụ ki n này vắng mặt hai b đừng tri u tập hai b đ n Tòa án. Hai b đ chuyển nhượng phần đất này cho ch Phạm Th Nh nên mọi quyền quy t đ nh thuộc về ch Nh chứ hai bà không có ý ki n hay yêu cầu gì nữa. Đối với các tài li u, chứng cứ có trong h sơ vụ án hai b đ được nhận và hai bà thống nhất với các chứng cứ có trong h sơ vụ án, không có ý ki n gì.

Đại diện Ủy ban nhân dân huyện Ch Th có i n trình bày:

Vi c cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà H1 và bà Y năm 2005 l đ ng theo h sơ đ a chính, bà H1 và bà Y đứng song cước do c ng được nhận thừa k từ cha là ông Nguy n Ngọc T1. Vi c chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ bà Y, bà H1 sang cho bà Phạm Th Nh l đ ng thủ tục và trình tự theo quy đ nh của pháp luật về đất đai từ hợp đ ng này bà Nh được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 25/4/2008 tại thửa 2550 (tách thửa 841), tờ bản đ số 01 (thửa mới 424, tờ bản đ số 06), di n tích 1.306,2m2 đất tọa lạc tại xã G H1, huy n Ch Th, tỉnh B n Tre. Ủy ban nhân dân huy n Ch Th hông đ ng ý yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Nh v đề ngh giải quy t vắng mặt.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm 77/2018/DS-ST ngày 19/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện h u hành, tỉnh BẾN TRE đã quy t định:

Áp dụng các Điều 34 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 31 Luật tố tụng hành chính; Điều 256 688 Bộ luật dân sự; Điều 100 Luật đất đai; Ngh quy t 326/2016/UBTVQH14 ng y 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; tuyên ử:

1- Chấp nhận yêu cầu hởi i n của nguyên đơn ch Phạm Th Nh;

Hộ anh Nguy n Tấn L ch Nguy n Th H ng Nh1 ch Nguy n Th Lan H v anh Nguy n Tấn Đ được quyền sử dụng phần đất có di n tích 261.6m2 thuộc thửa 424-1, 424-2, 424-3, 424-4, 424-5 (một phần của thửa 424) tờ bản đ số 6 tọa lạc tại G H1 huy n Ch Th tỉnh B n Tre. V trí thửa đất: Cạnh Đông Bắc Nam giáp phần đất còn lại của ch Phạm Th Nh v cạnh Tây giáp đường nông thôn (Có họa đ thửa đất èm theo).

2- Buộc hộ anh Nguy n Tấn L ch Nguy n Th H ng Nh1, ch Nguy n Th Lan H v anh Nguy n Tấn Đ có trách nhi m trả cho ch Phạm Th Nh số tiền bằng giá tr phần đất nêu trên l 130.800.000 đ ng (Một trăm ba mươi tri u tám trăm nghìn đ ng).

Các bên đương sự có trách nhi m liên h với cơ quan chức năng để được điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy đ nh của pháp luật về đất đai.

3- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của anh Nguy n Tấn L ch Nguy n Th H ng Nh1 đối với ch Phạm Th Nh về vi c yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất nêu trên.

4- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của anh Nguy n Tấn L, ch Nguy n Th H ng Nh1 đối với yêu cầu hủy hợp đ ng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 14/3/2008 giữa bà Nguy n Th Ngọc H1, bà Nguy n Th Ngọc Y với ch Phạm Th Nh tại thửa 2550 (tách thửa 841), tờ bản đ số 01 (thửa mới 424, tờ bản đ số 06), di n tích 1.306,2m2 đất tọa lạc tại xã G H1, huy n Ch Th, tỉnh B n Tre và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huy n Ch Th, tỉnh B n Tre cấp cho ch Phạm Th Nh vào ngày 25/4/2008 tại thửa 2550 (tách thửa 841), tờ bản đ số 01 (thửa mới 424, tờ bản đ số 06), di n tích 1.306,2m2 đất tọa lạc tại xã G H1, huy n Ch Th, tỉnh B n Tre.

Ngoài ra, bản án dân sự sơ thẩm còn tuyên về án phí dân sự sơ thẩm, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo của các đương sự, quyền yêu cầu thi hành án.

Ngày 03/12/2018, b đơn anh Nguy n Tấn L kháng cáo to n bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa ph c thẩm người đại di n theo ủy quyền của anh Nguy n Tấn L l anh Huỳnh Ngọc L thay đổi nội dung háng cáo yêu cầu hủy bản án sơ thẩm để b đơn bổ sung yêu cầu phản tố đưa tất cả 07 người con của b C v o tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan để ác đ nh i n của họ về vi c tranh chấp quyền sử dụng đất theo yêu cầu phản tố của b đơn.

Người đại di n theo ủy quyền của nguyên đơn v người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan b Nguy n Th Ngọc H1, bà Nguy n Th Ngọc Y đều yêu cầu giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huy n Ch Th.

Ủy ban nhân dân huy n Ch Th vắng mặt tại phiên tòa ph c thẩm nên hông có i n trình b y.

Kiểm sát viên phát biểu:

Về tố tụng: Hội đ ng xét xử phúc thẩm v đương sự đ thực hi n đầy đủ các quyền v nghĩa vụ theo quy đ nh của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề ngh Hội đ ng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, tuyên xử không chấp nhận kháng cáo của b đơn anh Nguy n Tấn L, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huy n Ch Th, tỉnh B n Tre.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài li u, chứng cứ có trong h sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa căn cứ vào k t quả tranh tụng tại phiên tòa, xét kháng cáo của b đơn anh Nguy n Tấn L v đề ngh của đại di n Vi n kiểm sát tham gia phiên tòa, Hội đ ng xét xử nhận đ nh:

Phần đất đang tranh chấp theo nguyên đơn chỉ đo đạc thực t có di n tích là 131,6m2, theo b đơn chỉ đo đạc có di n tích thực t là 274,1m2 thuộc một phần thửa 424, tờ bản đ số 06 (thửa cũ l 2550 tờ bản đ số 01), tọa lạc tại ấp H1 L, xã G H1, huy n Ch Th, tỉnh B n Tre, trừ phần di n tích lộ giới 12,5m2 nên di n tích còn lại là 261,6m2.

Trong quá trình tố tụng các đương sự đều thừa nhận ngu n gốc phần đất đang tranh chấp là của ông Nguy n Ngọc T1 (tên thường gọi là Tám T1 – cha của b Nguy n Th Ngọc 1 v b Nguy n Th Ngọc H1).

Năm 2000 ông Tám T1 ch t thì các con của ông Tám T1 là bà Nguy n Th Ngọc Y và b Nguy n Th Ngọc H1 được thừa k v đăng nên được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất v o năm 2005. Từ năm 2002 đ n năm 2004 bà Y và bà H1 có làm giấy tay bán cho vợ ch ng b Trần Th S, ông Phạm Văn Th1 (cha mẹ của ch Nh) phần đất di n tích 6.000m2. Bà S và ông Th1 canh tác đ n năm 2008 khi ông bà chia đất cho các con thì bà Y và bà H1 trực ti p làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng cho các con của bà S, ông Th1, trong đó có ch Phạm Th Nh được cho di n tích 1.306,2m2, thuộc thửa 2550, tờ bản đ số 01 (thửa mới 424, tờ bản đ số 06), đất tọa lạc tại ấp H1 L, xã G H1, huy n Ch Th, tỉnh B n Tre. Ng y 25/4/2008 ch Nh được Ủy ban nhân dân huy n Ch Th cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Xét thấy, tại các phiên tòa, mặc d các đương sự đều thừa nhận ngu n gốc phần đất đang tranh chấp là của ông Nguy n Ngọc T1. Tuy nhiên đây chỉ là sự thừa nhận của các đương sự hông có căn cứ pháp l nên hông được xem là những tình ti t, sự ki n không phải chứng minh theo quy đ nh tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án cấp sơ thẩm chỉ căn cứ vào lời trình bày của các đương sự để ác đ nh phần đất hi n các đương sự đang tranh chấp có ngu n gốc là của ông Nguy n Văn T1 mà không thực hi n vi c thu thập tài li u, chứng cứ liên quan đ n ngu n gốc đất này có phải là của ông Nguy n Ngọc T1 hay không, vi c bà Y và bà H1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do thừa k của ông T1 có đ ng quy đ nh của pháp luật về đất đai hay hông là có thi u sót. Tuy nhiên, Hội đ ng xét xử phúc thẩm đ hắc phục được thi u sót này của cấp sơ thẩm.

Trong quá trình giải quy t, cấp sơ thẩm có thu thập tài li u chứng cứ về số nhân khẩu trong hộ bà Nguy n Th Thu C qua nhiều thời điểm. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm không xem xét bà C và ông Nh2 có tất cả bao nhiêu người con. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Y và bà H1 cho rằng bà Cúc và ông Nh2 có khoảng 05 hoặc 06 người con, còn anh L (người đại di n theo ủy quyền của b đơn) cho rằng bà Cúc và ông Nh2 có 07 người con.

o đó n u giải quy t giao quyền sử dụng đất cho anh L, ch Nh1, ông Đ, bà H m hông em ét đ n ý ki n của những người con khác của bà C và ông Nh2 hông đưa những người này vào tham gia tố tụng trong vụ án là có thi u sót, làm ảnh hưởng đ n quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Thi u sót này của cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm không khắc phục được. o đó phải hủy bản án sơ thẩm và chuyển h sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quy t lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Xét đề ngh của đại di n Vi n kiểm sát nhân dân tỉnh B n Tre tại phiên tòa là trái với nhận đ nh của Hội đ ng xét xử nên không chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng sẽ được giải quy t khi vụ án được giải quy t lại.

Về án phí dân sự ph c thẩm: o bản án sơ thẩm b hủy nên các đương sự hông phải ch u án phí. Trả lại cho anh Nguy n Tấn L số tiền tạm ứng án phí đ nộp l 300.000 đ ng theo biên lai thu số 0020549 ngày 03/12/2018 của Chi cục Thi hành án huy n Ch Th, tỉnh B n Tre.

Vì á lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 308 Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

1. Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 77/2018/DS-ST ngày 19 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huy n Ch Th, tỉnh B n Tre. Giao toàn bộ h sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huy n Ch Th, tỉnh B n Tre giải quy t lại theo theo thủ tục sơ thẩm.

2. Về án phí: Trả lại cho anh Nguy n Tấn L số tiền tạm ứng án phí đ nộp là 300.000 đ ng (Ba trăm nghìn đ ng) theo biên lai thu số 0020549 của Chi cục Thi hành án huy n Ch Th, tỉnh B n Tre.

3. Bản án phúc thẩm có hi u lực kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ