vanban.org

Bản án 207/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Về quan hệ hôn nhân: Bà Thạch Thị D được ly hôn với ông Sơn Đà R.

2/ Về con chung: Giao cháu Sơn Thị Thùy D1, sinh ngày 26/6/2009 cho bà Thạch Thị D tiếp tục nuôi dưỡng đến khi thành niên. Ông Sơn Đà R không cấp dưỡng nuôi con. Giao cháu Sơn Thị Nhật T, sinh ngày 07/9/2014 cho ông Sơn Đà R tiếp tục nuôi dưỡng đến khi thành niên. Bà Thạch Thị D không cấp dưỡng nuôi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Thạch Thi D- Sơn Đ"
  • Tòa quyết gì? 1/ Về quan hệ hôn nhân: Bà Thạch Thị D được ly hôn với ông Sơn Đà R.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9 – CẦN THƠ
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 207/2026/HNGĐ-ST
Ngày 21-5-2026
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – CẦN THƠ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Triều Vũ Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Kim Phước

Ông Thạch Thanh Tâm

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Khánh Huy – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Lý Út Hoài - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 5 năm 2026, tại Hội trường xét xử – Tòa án nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ tiến hành mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 234/2026/TLST - HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2026 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 426/2026/QĐXXST - DS ngày 20 tháng 4 năm 2026; giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Thạch Thị D, sinh năm: 1990; Căn cước: xxxxxxxxxxxx; Địa chỉ: Ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ. ( Vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Sơn Đà R, sinh năm: 1988; CCCD: xxxxxxxxxxxx; Địa chỉ: Ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 11/3/2026, cũng như tại phiên tòa nguyên đơn bà Thạch Thị D trình bày:

Vào năm 2009, bà Thạch Thị D và ông Sơn Đà R tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. Sau khi chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì đến năm 2018 phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, đời sống vợ chồng không hạnh phúc. Bà và ông Đà R đã ly thân từ đó đến nay. Trong thời gian chung sống Bà D và ông Đà R có 02 (hai) người con chung là cháu Sơn Thị Thùy D1, sinh ngày 26/6/2009 và cháu Sơn Thị Nhật T, sinh ngày 07/9/2014. Về tài sản chung không có. Về nợ chung: Không có.

Tại Đơn yêu cầu xét xử vắng mặt bà Thạch Thị D yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ giải quyết: Về hôn nhân: Yêu cầu ly hôn với ông Sơn Đà R. Về con chung: Bà D đồng ý giao cháu T cho ông Đà R tiếp tục nuôi dưỡng đến khi thành niên. Bà D không cấp dưỡng nuôi con. Bà D yêu cầu được nuôi cháu D1 đến khi thành niên và không yêu cầu ông Đà R cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét.

Đối với bị đơn ông Sơn Đà R: Kể từ khi thụ lý đến nay, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Đà R, nhưng ông không có ý kiến bằng văn bản đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như tham dự theo các giấy triệu tập của Tòa. Do đó, Tòa án căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ để giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với những người tham gia tố tụng, nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn bà Thạch Thị D có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Sơn Đà R đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 235, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà D và ông Đà R.

Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, năm 2009 bà D và ông Đà R tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (nay là xã T, thành phố Cần Thơ). Xét thấy, việc chung sống của ông bà có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên được công nhận là vợ chồng. Tòa án đã triệu tập ông Đà R đến tham dự phiên hòa giải để hàn gắn mâu thuẫn, nhưng Ông Đà R vẫn vắng mặt. Tại Đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bà D vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn. Nhận thấy, hai bên đã phát sinh mâu thuẫn trầm trọng không thể tiếp tục duy trì đời sống vợ chồng với nhau. Do đó, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, HĐXX chấp nhận cho bà D được ly hôn với ông Đà R.

Về con chung: Bà D đề nghị giao cháu T cho ông Đà R trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu D1 cho bà trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu cấp dưỡng. Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn đã được tống đạt hợp lệ, nhưng không có ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn và vắng mặt tại phiên tòa.

Xét thấy: Cháu T cũng có nguyện vọng sống chung với cha, đồng thời yêu cầu của nguyên đơn phù hợp với điều kiện thực tế chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, bảo đảm quyền lợi mọi mặt của các cháu. Do đó, HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Giao cháu T cho ông Đà R tiếp tục nuôi dưỡng đến khi thành niên và giao cháu D1 cho bà D tiếp tục nuôi dưỡng đến khi thành niên Về cấp dưỡng: Do các bên không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung: Bà Thạch Thị D không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về nợ chung: Bà Thạch Thị D trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà Thạch Thị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng). Ông Sơn Đà R không phải chịu án phí.

Từ những phân tích nêu trên, xét đề nghị của Vị đại diện viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 81, 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Về quan hệ hôn nhân: Bà Thạch Thị D được ly hôn với ông Sơn Đà R.

2/ Về con chung: Giao cháu Sơn Thị Thùy D1, sinh ngày 26/6/2009 cho bà Thạch Thị D tiếp tục nuôi dưỡng đến khi thành niên. Ông Sơn Đà R không cấp dưỡng nuôi con. Giao cháu Sơn Thị Nhật T, sinh ngày 07/9/2014 cho ông Sơn Đà R tiếp tục nuôi dưỡng đến khi thành niên. Bà Thạch Thị D không cấp dưỡng nuôi con.

Dành quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung cho bà Thạch Thị D, ông Sơn Đà R mà không ai được cản trở.

3/ Về tài sản chung: Bà Thạch Thị D không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

4/ Về nợ chung: Bà Thạch Thị D trình bày không có. Do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

5/ Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Thạch Thị D có nghĩa vụ nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng). Nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà Bà D đã nộp 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005475 ngày 26/3/2026 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ. Bà D đã nộp xong án phí. Ông Sơn Đà R không phải chịu án phí.

6/ Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

7/ Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ