- Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án hình sự thụ lý số: 180/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2025 - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 207/2025/HS-ST Ngày 11-4-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Quyền
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Huỳnh Thị Kim Kiên
2. Bà Vương Thị Khánh Loan
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Trọng Duy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 4 năm 2025, Toà án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm hình thức trực tuyến công khai tại điểm cầu trung tâm Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa và điểm cầu thành phần tại Phân Trại tạm giam khu vực B, vụ án hình sự thụ lý số: 180/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 191/2025/HSST ngày 20 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn P, sinh năm 1999 tại Đồng Nai; Giới tính: nam; Nơi đăng ký thường trú: không có; Nơi sinh sống: tổ B, khu phố Đ, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 0/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn L; con bà Nguyễn Thị P1; Sống chung như vợ chồng với chị Nguyễn Thị Thanh N; Chưa có con.
Tiền án:
- Ngày 21/01/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 44/2021/HSST).
- Ngày 22/12/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 570/2022/HSST).
Bị cáo bị tạm giữ ngày 13/11/2024, chuyển tạm giam cho đến nay tại Phân trại tạm giam khu vực B (Bản án số 570/2022/HSST). Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn P là người sử dụng trái phép chất ma túy, để có tiền tiêu xài và mua ma tuý sử dụng, P nảy sinh ý định mua ma túy về bán lại cho người nghiện để kiếm lời.
Khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 11/11/2024, P đi đến khu vực ngã tư T, Thành phố Hồ Chí Minh gặp 01 người đàn ông tên “Đồng” (không rõ lai lịch) mua 01 gói ma tuý (dạng đá) với giá 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma tuý, P mang gói ma tuý trên về nhà P tại địa chỉ nhà không số thuộc tổ B, khu phố Đ, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai sử dụng hết một phần, phần còn lại P chia thành 12 gói nhỏ bỏ vào 01 hộp nhựa màu trắng rồi cất giấu trong khe tường rào phía sau nhà P, mục đích để bán cho người nghiện.
Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, Công an phường P kiểm tra nhà P (địa chỉ nêu trên) phát hiện thu giữ 12 gói ma tuý P cất giấu nêu trên. Cùng lúc này, P đi công việc về gần tới nhà thì thấy có lực lượng Công an đang kiểm tra, sợ bị phát hiện hành vi cất giấu ma tuý nên P bỏ trốn. Đến 17 giờ 20 phút ngày 12/11/2024, biết không thể che giấu hành vi phạm tội của mình nên P đến Công an phường P đầu thú. Công an phường P đã lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Vật chứng thu giữ: 12 gói nylon hàn kín bên trong chứa chất màu trắng đã được niêm phong.
Tại Kết luận giám định số 2332/KL-KTHS ngày 19/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận: Mẫu chất màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 3,8258 gam, loại Methamphetamine.
Tại cáo trạng số 192/CT-VKS-BH ngày 28 tháng 02 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P từ: 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù.
Về xử lý vật chứng Viện kiểm sát đề nghị: Tịch thu, tiêu hủy 01 gói niêm phong số 2332/KL-KTHS ngày 19/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội. Bị cáo thống nhất về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo. Bị cáo không có ý kiến hay tranh luận gì khác.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng hình sự: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn P có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có sự mâu thuẫn; phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định, tang vật của vụ án, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án nên đã đủ cơ sở kết luận:
Vào lúc 22 giờ 30 phút ngày 11/11/2024, tại nhà không số thuộc tổ B, khu phố Đ, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Văn P có hành vi cất giấu 3,8258 gam ma tuý, loại Methamphetamine với mục đích để bán cho người nghiện.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn P đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo theo tội danh và điểm, khoản, Điều nêu trên là có căn cứ đúng pháp luật.
Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm tới chế độ quản lý độc quyền chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương; đồng thời là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai trái, nhưng vì mục đích cá nhân mà bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy cần phải có hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo giáo dục và răn đe phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo P thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, ngoài khi phạm tội bị cáo ra đầu thú, nên bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 gói niêm phong số 2332/KL-KTHS ngày 19/01/2025 chứa ma túy được hoàn lại sau khi giám định, xét không được phép sử dụng nên tịch thu tiêu hủy
Về vấn đề khác: Đối với đối tượng tên Đ có hành vi bán ma tuý cho bị cáo P, hiện không rõ nhân thân lai lịch. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về các vấn đề trong vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Nguyễn Văn P: 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/11/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong số 2332/KL-KTHS ngày 19/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ.
Vật chứng nêu trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa theo Quyết định chuyển vật chứng số 3121/QĐ-VKS-BH ngày 28/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa; Biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/3/2025.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bị cáo Nguyễn Văn P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn P có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:
- TAND tỉnh;
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- VKSND tỉnh;
- VKSND TP. Biên Hòa;
- THADS TP. Biên Hòa;
- CA tỉnh;
- Bị cáo;
- UBND xã, phường nơi cư trú của bị cáo;
- Sở Tư pháp;
- Lưu.
Phạm Ngọc Quyền
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Thị Kim Kiên Vương Thị Khánh Loan
Phạm Ngọc Quyền
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - VKSND thành phố Biên Hòa; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - Công an thành phố Biên Hòa; - Chi cục THADS thành phố Biên Hòa; - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Lưu. | Nguyễn Thị Phụng |