- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LY HÔN H - V"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 207/2024/HNGĐ-ST Ngày 31-12-2024 V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Danh Hiếu;
2. Ông Trần Công Mẫn;
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Hồng Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công tham gia phiên toà: bà Nguyễn Trường Bảo Vy - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 12 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 128/2024/TLST-HNGĐ, ngày 07 tháng 10 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 232/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 22 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 218/2024/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:
1/ Nguyên đơn: Anh Nguyễn Quốc H, sinh năm: 1978;
Địa chỉ: Tổ A, khu phố L, phường L, thành phố G, tỉnh Tiền Giang. (Xin vắng mặt)
2/ Bị đơn: Chị Huỳnh Thị Thu V, sinh năm: 1979;
Địa chỉ: Tổ A, khu phố L, phường L, thành phố G, tỉnh Tiền Giang. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình tố tụng nguyên đơn trình bày:
Anh và chị V chung sống với nhau từ năm 2003, kết hôn trên tinh thần tự nguyện và được Ủy ban nhân dân xã L, thị xã G (nay là phường L, thành phố G), tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 31 vào ngày 27/5/2003. Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng do bất đồng quan điểm, chị V bỏ nhà đi, không ai quan tâm ai, thỉnh thoảng về thăm con rồi lại đi, trước đây anh có điện thoại liên lạc kêu về hàn gắn nhưng chị V không đồng ý; anh chị đã ly thân từ năm 2021 đến nay. Nay tình cảm không còn anh yêu cầu ly hôn với chị V.
- Về con chung: Có 02 người con chung tên Nguyễn Huỳnh Tường V1, sinh ngày 26/5/2003 (đã trưởng thành, không yêu cầu toà án giải quyết) và Nguyễn Huỳnh Tường L, sinh ngày 03/10/2011. Khi ly hôn anh H yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng cháu Tường L, không yêu cầu chị V cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Bị đơn vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, không có ý kiến gì mặc dù Toà án đã tống đạt hợp lệ.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý và xét xử vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng thực hiện đúng theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Căn cứ Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh H.
Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn chị Huỳnh Thị Thu V có địa chỉ tại phường L, thành phố G nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang.
[2]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: anh H xin ly hôn với chị V, yêu cầu nuôi con chung, căn cứ Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình và khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự nên quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
[3]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt. Bị đơn vắng mặt không có lý do mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ. Căn cứ vào Điều 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự trên.
[4] Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Anh H và chị V chung sống với nhau từ năm 2003, kết hôn trên tinh thần tự nguyện và được Ủy ban nhân dân xã L, thị xã G (nay là phường L, thành phố G), tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 31 vào ngày 27/5/2003 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Anh H cho rằng trong thời gian chung sống thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, chị V bỏ đi, không hàn gắn được, anh và chị V đã ly thân từ năm 2021 đến nay. Nay tình cảm không còn anh yêu cầu ly hôn với chị V.
Trong quá trình giải quyết, chị V đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án nhưng chị V không có ý kiến gì và vắng mặt trong các buổi hòa giải cho thấy chị V không còn tha thiết hàn gắn cuộc hôn nhân này.
Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn giữa anh H và chị V đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng đã có thời gian ly thân với nhau nhưng anh H và chị V đến nay vẫn không thể hàn gắn được. Do đó, yêu cầu ly hôn của anh H là có cơ sở để chấp nhận. Căn cứ vào Điều 56 luật Hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh H.
- Về con chung: Có 02 người con chung tên Nguyễn Huỳnh Tường V1, sinh ngày 26/5/2003 (đã trưởng thành, không yêu cầu toà án giải quyết) và Nguyễn Huỳnh Tường L, sinh ngày 03/10/2011. Khi ly hôn anh H yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng cháu Tường L, không yêu cầu chị V cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử nhận thấy hiện tại cháu Tường L đang sống cùng anh H, trong quá trình giải quyết vụ án chị V cũng không có thể hiện ý kiến hay yêu cầu gì về con chung; Qua xác minh tại địa phương thì cháu L đang sống cùng anh H, để đảm bảo điều kiện phát triển ổn định cho cháu L nên Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình tiếp tục giao cháu Nguyễn Huỳnh Tường L cho anh Nguyễn Quốc H tiếp tục nuôi dưỡng.
- Về việc cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom chăm sóc giáo dục con chung không ai được quyền cản trở. Trong trường hợp cần thiết thì anh H, chị V được thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nhằm đảm bảo quyền lợi cho con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.
[5]. Về án phí: Anh H phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[6]. Về quyền kháng cáo của đương sự: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[7]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Các Điều 147, 227, 228, 238, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;
- Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Quốc H.
1. Về hôn nhân: Anh Nguyễn Quốc H được ly hôn với chị Huỳnh Thị Thu V;
2. Về con chung: Anh Nguyễn Quốc H được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Huỳnh Tường L, sinh ngày 03/10/2011, chị Huỳnh Thị Thu V không cấp dưỡng nuôi con do anh H không có yêu cầu.
Cháu Nguyễn Huỳnh Tường V1 đã trưởng thành không yêu cầu toà án giải quyết.
Người không trực tiếp nuôi con được quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Trong trường hợp cần thiết thì anh H, chị V được thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nhằm đảm bảo quyền lợi cho con.
3. Về án phí: Anh Nguyễn Quốc H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0000996 ngày 07 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang. Như vậy, anh H đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm. Chị Huỳnh Thị Thu V không phải nộp án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, đương sự có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm. Trường hợp đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật. * Nơi nhận:TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh TG; Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
- VKSND TPGC;
- C.C THADS TPGC;
- Các đương sự;
- UBND phường Long Hưng;
- Lưu án văn, hồ sơ.
Nguyễn Thị Thu Thảo