vanban.org

Bản án 207/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND TP. Long Xuyên, tỉnh An Giang Tuyên án 18/06/2024 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng T5 đối với ông Phan Vĩnh T3 và bà Võ Thị Dạ T4.

Buộc ông Phan Vĩnh T3 và bà Võ Thị Dạ T4 có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng T5 nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 18/6/2024 là 985.402.877đ (Chín trăm tám mươi lăm triệu bốn trăm lẽ hai nghìn tám trăm bảy mươi bảy đồng). Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ông Phan Vĩnh T3 và bà Võ Thị Dạ … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng T5 đối với ông Phan Vĩnh T3 và bà Võ Thị Dạ T4.
  • Căn cứ chính? Điều 2 Luật Thi hành án dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LONG XUYÊN
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 207/2024/DS-ST
Ngày 18 tháng 6 năm 2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Hùng Bích

2. Bà Nguyễn Thị Xuân Loan

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Kiệt - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Nhựt - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 38/2024/TLST-DS, ngày 19 tháng 01 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 303/2024/QĐXX-ST, ngày 25 tháng 4 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số: 301/2024/QĐST-DS, ngày 21 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng T5. Địa chỉ trụ sở chính: phường B, thành phố T, tỉnh Long An. Địa chỉ liên hệ: phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn T - Chủ tịch Hội đồng thành viên.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đàm Minh Đ - Tổng giám đốc Ngân hàng T5. Văn bản số 01/2023/GUQ-CTHĐTV ngày 17/02/2023.

Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Hoàng Nhật H- Phó Tổng giám đốc Ngân hàng T5. Văn bản số 36/2023/GUQ-CB ngày 20/3/2023.

Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Nguyễn Văn T1; Ông Lê Đình Q; Ông Trần Vy Nhật Q1; Ông Dương Việt H1; Ông Trần Hoàng T2. Văn bản ủy quyền số 129/2024/GUQ-CB ngày 20/3/2024. Ông Q1, ông H1. Có mặt.

Bị đơn: 1. Ông Phan Vĩnh T3, sinh năm 1978. Vắng mặt.

2. Bà Võ Thị Dạ T4, sinh năm 1979. Vắng mặt.

Cùng nơi cư trú: khóm B, phường B, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng các lời khai trong quá trình tố tụng ông Dương Việt H1 và ông Trần Vy Nhật Q1 đại diện nguyên đơn trình bày:

Ngày 27/4/2022 giữa Ngân hàng T5 (sau đây gọi là Ngân hàng) cùng ông Phan Vĩnh T3 và bà Võ Thị Dạ T4 ký hợp đồng tín dụng số 8/2022/LOS22/MG001/HĐTD/200. Theo đó, Ngân hàng giải ngân cho ông T3 và bà T4 vay 900.000.000 đồng. Mục đích vay bù đắp tiền mua nhà ở; Thời hạn vay 240 tháng (từ ngày 27/4/2022 đến ngày 27/4/2042); lãi suất vay năm đầu tiên 8,5%/năm trong 12 tháng kể từ ngày giải ngân. Lãi suất cho vay được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là 27/4/2023. Lãi suất cho vay từ năm thứ 2 bằng lãi suất cơ sở 24 tháng cộng biên độ 3,5%/năm; lãi trên nợ gốc quá hạn bằng 150%/lãi suất cho vay trong hạn; lãi trên nợ lãi quá hạn là 10% tính trên số nợ chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Quá trình thực hiện hợp đồng vay ông T3, bà T4 không thực hiện trả vốn, lãi theo hợp đồng mặc dù Ngân hàng nhiều lần yêu cầu ông bà tất toán nợ. Do ông T3, bà T4 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng yêu cầu ông T3 và bà T4 liên đới chịu trách nhiệm trả cho Ngân hàng nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 18/6/2024 là 985.402.877 đồng. Trong đó, nợ gốc 851.047.369 đồng; nợ lãi trong hạn 122.880.218 đồng; nợ lãi trên gốc quá hạn 4.846.724 đồng; phạt chậm trả lãi 6.628.566 đồng. Đồng thời yêu cầu ông T3 và bà T4 tiếp tục chịu lãi vay, phí phát sinh tiếp theo theo hợp đồng tín dụng số 8/2022/LOS22/MG001/HĐTD/200 kể từ ngày 19/6/2024 cho đến khi bên vay trả hết nợ.

Tiếp tục thực hiện hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 8/2022/LOS22/MG001/02.HĐTC/200, ngày 27/4/2022. Trường hợp ông T3 và bà T4 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp trên để thu hồi nợ. Toàn bộ số tiền thu được từ việc phát mãi tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông T3, bà T4 đối với Ngân hàng. Nếu số tiền phát mãi tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ của ông T3, bà T4 thì ông T3, bà T4 có trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ cho đến khi trả hết khoản nợ trên cho Ngân hàng.

Quá trình thụ lý giải quyết vụ án bị đơn ông Phan Vĩnh T3 và bà Võ Thị Dạ T4 mặc dù được tống đạt trực tiếp và niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vắng mặt không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Phiên tòa được mở lần thứ hai, ông T3 và bà T4 vắng mặt không có lý do.

* Đại diện Viện kiểm sát Tp.Long Xuyên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và của đương sự như sau:

Thẩm phán chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS. Thủ tục tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng thực hiện đúng quy định tại Điều 171, 175, 177, 179 BLTTDS. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của BLTTDS. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của BLTTDS. Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của BLTTSD về việc xét xử vụ án.

* Ý kiến về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Buộc ông Phan Vĩnh T3, bà Võ Thị Dạ T4 trả nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 18/6/2024 là 985.402.877 đồng. Trong đó nợ gốc 851.047.369 đồng; nợ lãi trong hạn 122.880.218 đồng; nợ lãi quá hạn trên gốc 4.846.724 đồng, nợ lãi chậm trả lãi 6.628.566 đồng và tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất các bên ký kết trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ.

Trường hợp ông T3, bà T4 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài săn khác gắn liền với đất số 8/2022/LOS22/MG001/02.HĐTC/200, ngày 27/4/2022.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng:

. Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng với ông Phan Vĩnh T3, bà Võ Thị Dạ T4. Tại tiểu mục 10.2 Điều 10 hợp đồng tín dụng số 8/2022/LOS22/MG001/HĐTD/200 về giải quyết tranh chấp nguyên đơn và bị đơn thỏa thuận phát sinh tranh chấp do Tòa án có thẩm quyền giải quyết. Ông T3 và bà T4 cùng cư trú tại phường B, thành phố Long Xuyên, không có đăng ký kinh doanh, nên Tòa án thành phố Long Xuyên thụ lý là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

. Phiên tòa mặc dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng ông T3 và bà T4 vắng mặt không có lý do, nguyên đơn không yêu cầu hoãn phiên tòa. Xét thấy Tòa án đã thu thập, thực hiện các thủ tục tố tụng theo quy định, việc vắng mặt của bị đơn không trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung. [2]. Về nội dung: Ngày 27/4/2022 ông T3, bà T4 ký hợp đồng tín dụng số 8/2022/LOS22/MG001/HĐTD/200 để vay 900.000.000 đồng và Ngân hàng đã giải ngân đủ tiền vay cho bên thụ hưởng là bà Lý Sim B theo giấy đề nghị rút vốn kiêm giấy nhận nợ kiêm đề xuất rút vốn do ông Phan Vĩnh T3 và bà Võ Thị Dạ T4 ký tên xác nhận khách hàng và người đồng trả nợ ngày 27/4/2022.

Quá trình thực hiện hợp đồng vay ông T3, bà T4 không thực hiện trả vốn, lãi theo hợp đồng mặc dù Ngân hàng nhiều lần yêu cầu. Do ông T3, bà T4 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng yêu cầu ông T3 và bà T4 liên đới chịu trách nhiệm trả cho Ngân hàng nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 18/6/2024 là 985.402.877 đồng. Trong đó, nợ gốc 851.047.369 đồng; nợ lãi trong hạn 122.880.218 đồng; nợ lãi trên gốc quá hạn 4.846.724 đồng; phạt chậm trả lãi 6.628.566 đồng. Yêu cầu ông T3 và bà T4 tiếp tục chịu lãi phát sinh từ ngày 19/6/2024 đến khi trả hết nợ. Yêu cầu xử lý hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 8/2022/LOS22/MG001/02.HĐTC/200, ngày 27/4/2022 giữa Ngân hàng với ông T3, bà T4 để thu hồi nợ. Nếu tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết nợ thì ông T3, bà T4 tiếp tục thực hiện nghĩa vụ đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng.

Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 28/3/2024 ông Phan Vĩnh T3 thống nhất tài sản thế chấp như đại diện nguyên đơn trình bày. Lý do vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng theo hợp đồng tín dụng đã ký là do điều kiện kinh tế khó khăn. Ông T3 đề nghị Ngân hàng xem xét giảm lãi cho ông có điều kiện tất toán nợ.

. Qua lời trình bày của đại diện theo ủy quyền nguyên đơn và xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ nhận thấy, Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt trực tiếp và niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng ông T3, bà T4 vắng mặt không có lý do, không đến Tòa án tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải; không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, không cung cấp các tài liệu, chứng cứ có liên quan nhằm phản đối yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng là ông T3, bà T4 đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ của đương sự quy định tại khoản 5 Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do bị đơn vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải, Tòa án thực hiện thủ tục niêm yết Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho ông T3 và bà T4 biết để các ông bà thực hiện quyền, nghĩa vụ của đương sự theo quy định, nhưng ông T3, bà T4 không nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ hợp đồng tín dụng số 8/2022/LOS22/MG001/HĐTD/200; giấy đề nghị rút vốn kiêm giấy nhận nợ kiêm đề xuất rút vốn do ông T3 và bà T4 ký tên xác nhận khách hàng và người đồng trả nợ ngày 27/4/2022; Thông báo về việc chấm dứt việc cho vay và thu hồi nợ trước hạn do Ngân hàng thông báo cho ông T3, bà T4 ngày 01/12/2023; Quyết định về việc chấm dứt việc cho vay và thu hồi nợ trước hạn ngày 01/12/2023; giấy chứng nhận kết hôn của ông Phan Vĩnh T3 và bà Võ Thị Dạ T4 và biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 28/3/2024 đối với tài sản thế chấp để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng buộc ông T3 và bà T4 liên đới trả nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 18/6/2024 là 985.402.877 đồng. Tiếp tục chịu lãi phát sinh đến khi thanh toán hết nợ. Đối với yêu cầu xử lý hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 8/2022/LOS22/MG001/02.HĐTC/200, ngày 27/4/2022 giữa Ngân hàng với ông T3, bà T4 để thu hồi nợ. Xét tài sản thế chấp nêu trên của ông T3, bà T4 đối với Ngân hàng có công chứng và đăng ký thế chấp cùng ngày 27/4/2022 là đúng quy định về đăng ký thế chấp, do đó Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng về xử lý tài sản thế chấp của ông T3 và bà T4 để đảm bảo thi hành án.

. Về chi phí tố tụng: Ngân hàng đã tạm nộp 600.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ tài sản thế chấp. Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận, nên ông T3 và bà T4 có nghĩa vụ liên đới hoàn lại Ngân hàng 600.000 đồng.

. Về án phí: Ông T3 và bà T4 liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định trên số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn.

Ngân hàng được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 466; Điều 470 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 6; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 2; Điều 6; Điều 7; Điều 7a; Điều 9 và Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (Được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng T5 đối với ông Phan Vĩnh T3 và bà Võ Thị Dạ T4.

Buộc ông Phan Vĩnh T3 và bà Võ Thị Dạ T4 có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng T5 nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 18/6/2024 là 985.402.877đ (Chín trăm tám mươi lăm triệu bốn trăm lẽ hai nghìn tám trăm bảy mươi bảy đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ông Phan Vĩnh T3 và bà Võ Thị Dạ T4 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà ông T3 và bà T4 vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Trường hợp ông Phan Vĩnh T3 và bà Võ Thị Dạ T4 không thanh toán nợ hoặc thanh toán nợ không đầy đủ thì Ngân hàng T5 có quyền làm đơn yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 8/2022/LOS22/MG001/02.HĐTC/200, ngày 27/4/2022 giữa Ngân hàng T5 chi nhánh A với ông ông Phan Vĩnh T3 và bà Võ Thị Dạ T4 để thu hồi nợ.

Trường hợp tài sản bảo đảm vẫn không đủ để Ngân hàng T5 thu hồi nợ thì ông Phan Vĩnh T3 và bà Võ Thị Dạ T4 vẫn phải tiếp tục liên đới thực hiện nghĩa vụ trả nợ.

Về chi phí tố tụng: Ông Phan Vĩnh T3 và bà Võ Thị Dạ T4 có nghĩa vụ liên đới hoàn lại cho Ngân hàng T5 600.000đ (Sáu trăm nghìn đồng).

Về án phí: Ông Phan Vĩnh T3 và bà Võ Thị Dạ T4 liên đới chịu 41.562.000đ (Bốn mươi một triệu năm trăm sáu mươi hai nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Ngân hàng T5 được nhận lại 19.865.000đ (Mười chín triệu tám trăm sáu mươi lăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001475, ngày 19/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên.

Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ