- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Thùy D phạm tội Mua bán TPCMT - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Thùy D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 207/2022/HS-ST Ngày 20-9-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Tiến.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Trần Phan
Ông Trần Vũ Vương
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thủy, Thư ký Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Lâm - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 09 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 194/2022/HSST ngày 31 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 211/2022/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo:
- Họ và tên: Đỗ Thùy D, sinh năm 1983; Đăng ký nhân khẩu thường trú: Số 8, ngõ 376 phố T, phường N, quận Đ, Thành phố Hà Nội; Chỗ ở hiện nay: Không cố định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Đình T và bà Phạm Thị A; Chồng: Nguyễn Mạnh H, có 01 con sinh năm 2009; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Danh chỉ bản số: 182 ngày 27/5/2022 của Công an quận Hai Bà Trưng, TP. Hà Nội. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/5/2022 đến nay tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Hà Nội (Có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14h30 phút ngày 19/05/2022, Tổ công tác Công an phường Q, quận H, Thành phố Hà Nội làm nhiệm vụ tại trước số 10 C, phường Q, quận H, Thành phố Hà Nội phát hiện Đỗ Thùy D điều khiển xe máy Honda Lead màu trắng BKS: 29G1 – 43.. có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, D tự giao nộp từ trong lòng bàn tay trái 01 (một) túi nilon màu trắng kích thước khoảng (1,5 x 1,5) cm bên trong chứa tinh thể màu trắng. Tại chỗ, D khai là ma túy “đá” mang đi để bán kiếm lời. Tổ công tác đã lập biên bản, niêm phong tang vật đưa D về trụ sở để xác minh, làm rõ. Ngoài 01(một) gói ma túy, Cơ quan điều tra còn thu giữ của D 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia màu xanh, 01 xe máy nhãn hiệu Honda Lead màu trắng mang BKS 29G1-43.... Cơ quan cảnh sát điều tra công an quận Hai Bà Trưng đã ra quyết định trưng cầu giám định số ma túy đã thu giữ của Đỗ Thùy D. Tại Bản kết luận giám định số 3048/KLGĐ-PC09 ngày 27/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội, kết luận: “Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilong là ma tuý loại Methaphetamine, khối lượng 0,338 gam. Tại Cơ quan điều tra, Đỗ Thùy D khai nhận: Khoảng 14 giờ ngày 19/05/2022, D đang lang thang ở khu vực Công viên T, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội thì nhận được điện thoại tử số 0866788200 của bạn ngoài xã hội tên “Trung” (không rõ nhân thân lai lịch) gọi đến số điện thoại 0378592082 của D để hỏi mua 400.000đ (bốn trăm ngàn đồng) tiền ma túy “đá”, D đồng ý và hẹn giao ma túy tại khu phố C, phường Q, quận H, Thành phố Hà Nội. Sau đó, D điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Lead mang BKS 29G1 43... đi đến khu vực trước số 189 phố T, phường Q, quận H, Thành phố Hà Nội để tìm mua ma túy. Tại đây, D gặp và mua của một người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch) 01 túi nilong ma túy “đá” với giá tiền là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng). Sau khi mua được ma túy, D cầm túi ma túy vừa mua được trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe máy đi đến điểm hẹn để giao ma túy cho Trung. Đến khoảng 14h30" cùng ngày, khi D đi đến khu vực trước số 10 phố C, phường Q, quận H, Thành phố Hà Nội thì bị Cơ quan Công an kiểm tra bắt giữ như trên. Lời khai của D phù hợp với biên bản hiện trường, sơ đồ bắt giữ, vật chứng thu giữ, lời khai người chứng kiến cùng các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án. Đối với người đàn ông tên “Trung” hỏi mua ma túy của D vào ngày 19/05/2022: D quen biết ngoài xã hội, không biết tên tuổi, địa chỉ của “Trung”. Cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ điện tín số điện thoại 0866788200 do “Trung” sử dụng. Kết quả, chủ thuê bao là anh Hùng Tất T, sinh năm 1955; HKTT: xã H, huyện H, tỉnh Đồng Tháp. Anh T trình bày không đứng tên đăng kí và sử dụng số điện thoại trên. Do vậy, Cơ quan điều trakhông có căn cứ xác minh, xử lý. Cơ quan điều tra đã dẫn giải D đi xác định địa điểm mua ma túy và người đàn ông bán ma túy cho D vào ngày 19/05/2022, D xác định được địa điểm mua ma túy tại khu vực trước số 189 phố T, phường Q, quận H, Thành phố Hà Nội nhưng không xác định được người đàn ông đã bán ma túy cho D nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, xử lý. Đối với 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia màu xanh thu giữ của D, D sử dụng để liên lạc mua bán ma túy. Đối với 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Lead màu trắng đã qua sử dụng mang BKS 29G1-43...: Qua xác minh, BKS: 29G1-43... là của chiếc xe máy Honda SH màu đen, có số khung 553820, số máy 0582007 là số nguyên thủy và không nằm trong dữ liệu quản lý của cảnh sát giao thông. Quá trình điều tra chưa xác minh được chủ sở hữu hợp pháp đối với chiếc xe trên nên ngày 16/8/2022 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận hai Bà Trưng đã ra quyết định tách tài liệu liên quan đến chiếc xe máy trên để tiếp tục xác minh, làm rõ.
Bản cáo trạng số 176/CT -VKSHBT ngày 26/8/2022, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng thành phố Hà Nội đã truy tố Đỗ Thùy D về tội: "Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi của mình như nội dung đã nêu trên là đúng. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng giữ quyền công tố luận tội và tranh luận vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù. Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định do vậy đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy 0,338g ma túy loại Methamphetamine. Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại hiệu Nokia đã qua sử dụng bị cáo dùng đề liên lạc mua bán ma túy.
Bị cáo nói lời sau cùng, nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hai Bà Trưng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà bị cáo khai nhận phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra vụ án thể hiện như sau: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 19/5/2022, tại khu vực trước số 10 phố C, P. Q, Q. H, TP. Hà Nội, bị cáo Đỗ Thùy D có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để bán kiếm lời. Vật chứng thu giữ là 01 gói nilon màu trắng kích thước khoảng(1,5×1,5)cm bên trong chứa tinh thể màu trắng, được Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội kết luận là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng 0,338gam. Do đó đủ cơ sở khẳng định bị cáo Đỗ Thùy D phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Việc truy tố, xét xử bị cáo là có căn cứ và đúng theo quy định của pháp luật.
Hành vi của bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội vì chẳng những xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội mà còn làm gia tăng các tệ nạn về ma tuý và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác trên địa bàn. Ma tuý là một tệ nạn xã hội nguy hiểm, vì nó trực tiếp huỷ hoại sức khoẻ và làm ảnh hưởng đến nòi giống. Hơn thế nữa ma tuý còn làm tan nát hạnh phúc và sự bình yên của nhiều gia đình. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Song do thiếu tu dưỡng, tham lam tư lợi và coi thường pháp luật nên bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Do đó cần phải xử lý nghiêm minh cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đó là tình tiết để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp với pháp luật. Tại phiên toà Kiểm sát viên đề nghị áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Cần tịch thu tiêu hủy 0,338gam ma túy loại Methamphetamine. Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia dùng để sử dụng vào việc mua bán trái phép chất ma túy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Thùy D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Đỗ Thùy D: 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 19/05/2022.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 332; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Toà án của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong, bên ngoài có chữ ký của bị cáo và giám định viên bên trong chứa 0,338gam ma túy loại Methamphetamine. Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh có số seri: 353101112734032. (Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an quận Hai Bà Trưng với Chi cục Thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng số 244/22 ngày 07/9/2022.)
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, sơ thẩm bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND Q. Hai Bà Trưng. - VKS TP. Hà Nội - Công an Q. Hai Bà Trưng. - Bị cáo. - Lưu./ | THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Văn Tiến |