vanban.org

Bản án 207/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 28/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố: Các bị cáo Trần Tuấn A, Nguyễn M ph m tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

[2] Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 58 Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). [3] Xử phạt: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Tuấn A cùng ĐP - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố: Các bị cáo Trần Tuấn A, Nguyễn M ph m tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật tố t ng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TP
TỈNH BT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 207/2022/HS-ST
Ngày 28-12-2022

NHÂN DA

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA N NH N N HUYỆN TP TỈNH NH THU N

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bích Thị Kim Pháp

Các Hội thẩm nhân dân: + Bà Nguyễn Thị Bích Lam

+ Bà Trần Thị Hà

- Thư ký phiên tòa: Ông Đắc Quốc Tuân – Thư ký Tòa án huyện TP.

- ại di n Vi n ki m sát nhân dân hu n TP tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thìn - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 12 năm 2022 t i tr s Tòa án nhân dân huyện TP xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự sơ thẩm th lý số: 188/2022/HSST, ngày 01 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa v án ra xét xử số: 192/2022/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2022, đối với các bị cáo:

1/ Họ và tên: Trần Tuấn A(tên gọi khác: Du), sinh ngày 10/7/1991; t i tỉnh BT.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ hiện nay: thôn HĐ1, xã CC, huyện TP, tỉnh BT; nghề nghiệp: làm biển; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam, tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt nam; con ông Trần Văn Hvà bà Võ Thị S; A, chị, em ruột: có 05 người; vợ: Huỳnh Ngọc H (chưa đăng ký kết hôn); con: có 02 người.

Tiền án: 01 tiền án

Tiền sự: 02 tiền sự

- Ngày 16/12/2021 bị Chủ tịch ủy ban nhân dân phường PL, thị xã LG Quyết định áp d ng biện pháp giáo d c t i xã, phường, thị trấn với thời h n 03 tháng, chấp hành xong ngày 16/03/2022.

* Ho t động nhân thân của bị cáo:

- Ngày 19/4/2011 bị Tòa án nhân dân huyện TP xử ph t 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, t i Bản án số 28/2011/HSST. Chấp hành xong hình ph t tù ngày 11/01/2012;

- Ngày 21/4/2011 bị Tòa án nhân dân huyện TN, tỉnh TN xử ph t 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, t i Bản án số 08/2011/HSST.

- Ngày 14/9/2012 bị Tòa án nhân dân huyện TP xử ph t 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, t i Bản án số 78/2012/HSST.

- Ngày 12/10/2012 bị Tòa án nhân dân huyện TP xử ph t 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, t i Bản án số 92/2012/HSST (đã xóa án tích).

- Ngày 24/8/2022 bị Tòa án nhân dân huyện TP áp d ng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ s cai nghiện bắt buộc với thời h n 12 tháng theo Quyết định số 106/QĐ-TA, hiện đang chấp hành.

Bị cáo hiện nay đang bị áp d ng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ s cai nghiện bắt buộc tỉnh BT, theo Quyết định số: 106/QĐ-TA, ngày 24 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện TP “có mặt”.

2/ Họ và tên: Nguyễn M(tên gọi khác: Nhí Nhỏ), sinh ngày 08/03/1995; t i tỉnh BT.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ hiện nay: thôn HT2, xã CC, huyện TP, tỉnh BT; nghề nghiệp: làm biển; Trình độ học vấn: 03/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam, tôn giáo: không; quốc tịch: Việt nam; con ông Nguyễn Avà bà Nguyễn Thị Th; A, chị, em ruột: có 04 người; vợ: Huỳnh Thị Như T(không có đăng ký kết hôn); con: có 01 người.

Tiền án, tiền sự: không

Bị cáo Nguyễn M bị bắt theo Quyết định truy nã số: 14/QĐTN-CQCSĐT ngày 21/10/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện TP vào ngày 26/10/2022, hiện đang t m giam t i Nhà t m giữ - Công an huyện TP “có mặt”.

NỘI UNG VỤ N:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến t i phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 27/7/2022, Công an thị trấn PRCtiến hành tuần tra đảm bảo an ninh trật tự đến khu vực MT thuộc khu phố MT4, thị trấn PRCphát hiện bắt quả tang Nguyễn Mcó hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trên tay phải của Nguyễn M 02 đo n ống nhựa màu vàng, được hàn kín, kích thước mỗi đo n giống nhau khoảng 01×02cm bên trong chứa chất rắn d ng nén màu trắng và Nguyễn M khai nhận chất rắn d ng nén màu trắng là heroine của M và Trần Tuấn A cùng nhau góp tiền mua được cất giấu m c đích để sử d ng.

Thu giữ 02 đo n ống nhựa màu vàng, được hàn kín, kích thước 01×02cm bên trong chứa chất rắn d ng nén màu trắng đã thu giữ của Nguyễn Mđược niêm phong trong phong bì ký hiệu số 01, gửi giám định được định dA là mẫu M.

T i bản kết luận giám định số: 803/KLGĐ-PC09 ngày 01/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh BT kết luận:

- Mẫu M gửi giám định có khối lượng 0,1209gam, là Heroine.

Quá trình điều tra xác định: Do có nhu cầu sử d ng ma túy nên vào khoảng 08 giờ 00 ngày 27/7/2022, Nguyễn M đến nhà Trần Tuấn A rủ Tuấn A góp tiền đi vào thị trấn PRCmua ma túy sử d ng, Tuấn A đồng ý. M đưa cho Tuấn A 100.000 đồng, Tuấn A góp vào 100.000 đồng (tổng là 200.000 đồng) rồi cùng nhau đi đến khu vực bờ kè thuộc thị trấn Phan Rí Cửa, huyện TP. T i đây, M và Tuấn A gặp một người thA niên không rõ lai lịch, Tuấn A hỏi mua 02 tép Heroin và đưa cho người thA niên này 200.000 đồng, người thA niên đồng ý, nhận tiền rồi đi đâu đó khoảng 03 phút quay l i chỗ M và Tuấn A đứng chờ và đưa cho M 02 tép Heroin. M cầm 02 tép Heroine đã mua được trên tay và cùng với Tuấn A đi về l i xã CC, huyện TP để tìm nơi sử d ng. Đến khoảng 09 giờ 00 cùng ngày khi M và Tuấn A đang đi đến khu vực MTthuộc khu phố MT4, thị trấn thì bị Công an thị trấn PRCtuần tra phát hiện bắt giữ cùng tang vật.

Tại phiên tòa s thẩm:

kiến của đ i diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TP: Vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố theo cáo tr ng số: 01/CT-VKSTP-HS ngày 01/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TP.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Các bị cáo Trần Tuấn A, Nguyễn Mph m tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định t i điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử ph t: Bị cáo Trần Tuấn A mức án từ 15 (Mười lăm) đến 18 (Mười tám) tháng tù, thời h n tù tính từ ngày bị bắt thi hành án.

Xử ph t: Bị cáo Nguyễn M mức án từ 12 (Mười hai) đến 15 (Mười lăm) tháng tù, thời h n tù tính từ ngày bị bắt ngày 26/10/2022

Về phần xử lý tang vật chứng: Áp d ng điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 02 đo n ống nhựa màu vàng, đã được cắt lấy mẫu, kích thước 01×02cm và 0,0636gam mẫu M còn l i sau giám định được niêm phong trong phong bì số 803.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/12/2022 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện TP và Chi c c thi hành án dân sự huyện TP).

Các bị cáo không trA luận và đồng ý quan điểm truy tố của đ i diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TP.

Các bị cáo nói lời sau cùng, xin giảm nhẹ hình ph t

Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra t i phiên tòa, căn cứ vào kết quả trA luận t i phiên tòa trên cơ s xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Viện kiểm sát, các bị cáo.

NH N ĐỊNH CỦA TÒA N:

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được trA t ng t i phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, trình tự thủ t c tố t ng c ng như các quyết định của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện TP: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ t c theo quy định của Bộ luật tố t ng hình sự. Quá trình điều tra c ng như t i phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu n i về hành vi, trình tự thủ t c tố t ng c ng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó các hành vi, trình tự thủ t c tố t ng c ng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.

[2] Về chứng cứ buộc tội các bị cáo: T i phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo Trần Tuấn A, Nguyễn Mthừa nhận hành vi ph m tội của mình như nội dung cáo tr ng đã nêu, các bị cáo khẳng định những lời khai của mình trong quá trình điều tra v án là hoàn toàn tự nguyện, không bị bức cung, ép cung và cáo tr ng truy tố là hoàn toàn đúng, không oan. Lời nhận tội của các bị cáo t i phiên tòa, phù hợp với lời khai của các bị cáo t i Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người ph m tội quả tang, kết quả giám định chất ma tuý và các chứng cứ khác có trong hồ sơ v án. Như vậy, có đủ cơ s kết luận:

Vì có nhu cầu sử d ng ma túy bị cáo Trần Tuấn Avà bị cáo Nguyễn Mgóp tiền cùng nhau đi mua 02 tép Heroin để sử d ng. Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 27/7/2022, Công an thị trấn PRCtiến hành tuần tra đảm bảo an ninh trật tự đến khu vực MTthị trấn PRCphát hiện bắt quả tang các bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trên tay phải của bị cáo M 02 đo n ống nhựa màu vàng, được hàn kín, kích thước mỗi đo n giống nhau khoảng 01×02cm bên trong chứa chất rắn d ng nén màu trắng.

T i bản kết luận giám định số 803/KLGĐ-PC09 ngày 01/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh BT kết luận:

- Mẫu M gửi giám định có khối lượng 0,1209gam, là Heroine.

Vì vậy, cáo tr ng số: 01/CT/VKSTP-HS ngày 01/12/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện TP, truy tố các bị cáo Trần Tuấn A, Nguyễn Mvề tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 như đã viện dẫn trong cáo tr ng là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ của hành vi ph m tội và mức hình ph t:

Ma tuý, là lo i độc dược là chất gây nghiện mà Nhà nước đã nghiêm cấm các ho t động sản xuất, tàng trữ, mua bán, chiếm d ng, sử d ng trái phép, đây là một trong những nguyên nhân gây ra các tệ n n xã hội, các căn bệnh thế kỷ, làm lây truyền vi rút gây bệnh khó chữa, ảnh hư ng xấu đến sức khỏe và sự phát triển giống nòi của dân tộc, thế nhưng các bị cáo đã coi thường pháp luật, bất chấp hậu quả, thực hiện hành vi tàng trữ ma túy để sử d ng cho bản thân. Trong v án có đồng ph m nhưng thuộc trường hợp đồng ph m giản đơn. Hành vi của các bị cáo rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm ph m đến chế độ độc quyền quản lý về ma túy của Nhà nước, nên cần phải xử lý bị cáo bằng một mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, để có đủ thời gian cải t o giáo d c các bị cáo tr thành người tốt, công dân có ích cho xã hội đồng thời để bảo vệ tính nghiêm M của pháp luật hình sự Việt Nam.

[4] Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định t i Điều 52 Bộ luật hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra c ng như t i phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định t i điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên cần xem xét chiếu cố khi xử lý, để giảm nhẹ cho các bị cáo một phần trong mức hình ph t, để thể hiện tính nhân đ o của pháp luật Nhà nước Xã hội chủ nghĩa.

[6] Về xử lý tang, vật chứng của v án:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 02 đo n ống nhựa màu vàng, đã được cắt lấy mẫu, kích thước 01×02cm và 0,0636gam mẫu M còn l i sau giám định được niêm phong trong phong bì số 803.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01 /12 /2022 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện TP và Chi c c thi hành án dân sự huyện TP).

[7] Về án phí: Áp d ng: Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố t ng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án.

[8] Đối với quan điểm đề nghị của đ i diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TP t i phiên tòa là có căn cứ phù hợp với nhận định như trên, nên được chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Tuyên bố: Các bị cáo Trần Tuấn A, Nguyễn M ph m tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

[2] Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 58 Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[3] Xử phạt:

- Bị cáo Trần Tuấn A mức án 15 (Mười lăm ) tháng tù, thời h n tù tính từ ngày bị bắt thi hành án.

- Bị cáo Nguyễn M mức án 12 (Mười hai) tháng tù, thời h n tù tính từ ngày bị bắt 26/10/2022

[4] iện pháp tư pháp: Căn cứ c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu hủy: 02 đo n ống nhựa màu vàng, đã được cắt lấy mẫu, kích thước 01×02cm và 0,0636gam mẫu M còn l i sau giám định được niêm phong trong phong bì số 803.

Là vật cấm tàng trữ, lưu hành.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/12/2022 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện TP và Chi c c thi hành án dân sự huyện TP).

[5] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định t i khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố t ng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Trần Tuấn A, Nguyễn M mỗi người phải nộp 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[6] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố t ng hình sự năm 2015.

Án xử công khai có mặt các bị cáo, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời h n 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ