- Tranh chấp gì? Tranh chấp đất đai — án dân sự — "Nguyễn Văn H - Bành Quốc V"
- Tòa quyết gì? 1/. Không chấp nhận yêu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị N đối với ông Bành Quốc V, bà Nguyễn Thị Bé B, ông Nguyễn Vũ P và bà Nguyễn Thị P về việc “Quyền về lối đi qua”
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BẾN TRE Bản án số: 207/2022/DS-ST Ngày: 19-9-2022 V/v “Tranh chấp quyền về lối đi qua” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Đức;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đoàn Minh Tư;
2. Bà Bùi Thị Thúy Bắc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm My - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thanh Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 164/2022/T ST - S n à 12 thán 8 năm 2022 về việc “Tranh chấp quyền về lối đi qua” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 148/2022/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 9 năm 2022, giữa các đươn sự:
1. Nguyên đơn:
1.1. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1959;
1.2. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1961;
Cùng nơi cư trú: ấp V H, xã V T, hu ện Chợ ách, tỉnh ến Tre.
N ười đại diện theo ủy quyền của n u ên đơn là ôn Sử Văn N, sinh năm 1954; Nơi cư trú: ấp T A, xã L T, hu ện Chợ ách, tỉnh ến Tre (Có mặt)
2. Bị đơn:
2.1. Ông Bành Quốc V, sinh năm 1956; (Có yêu cầu giải quyết vắng mặt)
2.2. Bà Nguyễn Thị Bé B, sinh năm 1958; (Có mặt)
Cùn nơi cư trú: ấp V H, xã V T, hu ện Chợ ách, tỉnh ến Tre
2.3. Ông Nguyễn Vũ P, sinh năm 1983; (Có mặt)
2.4. Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1982; (Có mặt)
Cùng nơi cư trú: ấp V H, xã V T, hu ện Chợ ách, tỉnh ến Tre
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, văn bản trình bày ý kiến, biên bản hòa giải, cũng như tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Sử Văn Nhã trình bày:
Ông H và bà N là chủ sử dụng phần đất có diện tích 1.970,2m2 thuộc thửa số 85, tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại ấp Vĩnh Hưn 1, xã Vĩnh Thành, hu ện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre, do Ủy ban nhân dân (UBND) huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre cấp giấy chứng nhận quyền sử dụn đất (QS Đ) ngày 30/5/2013. Nguồn gốc thửa đất là n u ên đơn mua lại của ông B, lúc này ông H đi nhờ trên lối đi của ông K (nay là lối đi trên thửa 61 của bà Nguyễn Thị Bé B và ông Bành Quốc V), rồi đi đến lối đi trên thửa 553 của ia đình ôn Nguyễn Vũ P, bà Nguyễn Thị P để ra đường công cộng. Lối đi nà là có trước 1975 là lối đi tru ền thống.
Khoảng năm 2000 giữa ông V và ông K xảy ra tranh chấp ranh liên quan đến lối đi truyền thống này. Đã được Cơ sở ấp Vĩnh Hưng 1 hòa giải ngày 24/8/2000. Cuộc hòa giải thành có nội dung cụ thể như sau: “ôn V lấy mương, để bờ mẫu làm bờ đi. Ý ông K bờ mẫu làm bờ đi thuộc quyền của ông K, ông V không còn nói là bờ mẫu của ông V nữa” ôn ành Quốc V và ông Nguyễn Văn K đồng ý ký tên và biên bản được kết thúc trong ngày, biên bản đã được Trưởng ấp, ấp Vĩnh Hưng 1 ký tên xác nhận ngày 25/8/2000 tên Nguyễn Hồng V. Gia đình ông H vẫn sử dụng liên tục lối đi này để đi ra đường giao thông công cộng.
Vào khoảng tháng 10 năm 2021 nhận thấy lối đi truyền thống thuộc thửa 61, tờ bản đồ số 14 mà gia đình ông H trực tiếp và xuyên suốt sử dụng luôn bị ẩm thấp, lầy lội nên ông H tổ chức nâng cao mặt đường này bằng đá dăm cho cao ráo, dễ dàng đi lại (khi làm thì ông H không có hỏi xin ý kiến của ông V, bà B). Nâng xong mặt đường ông H sử dụng đi vừa được một tuần bà Nguyễn Thị Bé B (vợ ông Bành Quốc V) rào lối đi này lại không cho ông H sử dụng cho đến ngày nay. Bên ông V, bà B kéo hàng rào lưới B40 với 02 trụ cây tạm căng hai đầu chắn ngang hai đầu lối đi lại ôn cho n u ên đơn đi
Còn đối với lối đi trên thửa 553 của ông Nguyễn Vũ P, bà Nguyễn Thị P thì vào năm 2015 ôn N u ễn Vũ P và ông Nguyễn Văn H1 có giải quyết tranh chấp về lối đi, sau đó ôn P đồng ý cho ông H1 đi lối đi nà (lối đi đan tranh chấp hiện nay), lối đi có chiều ngang khoảng 01m, dài khoảng 43m thuộc một phần thửa 553, tờ bản đồ số 14, do ông Nguyễn Vũ P và bà Nguyễn Thị P đứng tên quyền sử dụn o đất của ông H giáp ranh với đất của ông H1 nên lúc đó ôn H có hỏi ông H1 về việc đi chung lối đi trên đất của ông P thì ông H1 đồn ý, nhưn do sơ suất nên ông H lúc đó không có hỏi vợ chồng ông P về việc cho ông H đi chun lối đi nà nên nay ông P, bà P không cho ông H và bà N đi
Còn về các lối đi khác mà phía bị đơn trình bà là do năm 2016 ông H xây nhà trên phần đất có số thửa 541, tờ bản đồ số 14 xã Vĩnh Thành, ôn H có thỏa thuận đi nhờ lối đi từ lộ công cộn vào đất bà Nguyễn Huyền P, rồi đến đất ông Nguyễn Văn T, ông Nguyễn Văn H2 (cha bà P) một thời gian ngắn để vận chuyển vật liệu xây dựng từ lộ đal (đườn vào Vĩnh Phú) vào nhà đang xây dựng (đường rộng dễ vận chuyển vật liệu nặng). Mặc dù lối đi nà hiện là đất trốn nhưn hiện nay lối đi này cũn đã bị kéo lưới b40 rào lại ở đầu giáp lộ công cộng.
Hiện nay ông H đan sử dụng lối đi qua đất của ông Nguyễn Văn H3 là em ruột của ông H nhưn rất khó khăn vì có một đoạn có hàn rào tường nên phải leo qua mới đi được. Ngoài lối đi đan tranh chấp này ra ông H không có lối đi nào khác để ra đến đường công cộng.
Thửa 85 của ông H đang sử dụng hiện đang bị vây bọc bởi các bất động sản liền kề như sau:
- Bắc tiếp giáp hai thửa 60 và 71 tờ bản đồ số 14 của Nguyễn Tấn H; Nam tiếp giáp thửa 90 tờ bản đồ số 14 của Trần Thị C;
- Đông Đông Nam tiếp giáp thửa 104 (14) của Nguyễn Văn N và thửa 89 (14) của Nguyễn Văn H;
- Tây Tây Bắc tiếp giáp thửa 75 (14) của Nguyễn Văn L và thửa 61 (14) của Bành Quốc V;
- Nam giáp thửa 90 (14) của Trần Thị C.
Nay ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị N yêu cầu ông Bành Quốc V và bà Nguyễn Thị Bé B phải tự tháo dỡ, di dời hàng rào lưới B40 mở lại lối đi theo kết quả đo đạc thực tế là 56,1m2, cao 04 mét thuộc một phần thửa đất số 61, tờ bản đồ 14; yêu cầu ông Nguyễn Vũ P, bà Nguyễn Thị P mở lối đi có diện tích theo đo đạc thực tế là 41,5m2, cao 04 mét thuộc một phần thửa 553, tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại ấp Vĩnh Hưn 1, xã Vĩnh Thành, hu ện Chợ ách, tỉnh ến Tre để ông bà có lối đi ra đường công cộng. Ông H, bà N đồng ý bồi hoàn giá trị lối đi theo qu định.
Ông H, bà N xin rút lại khởi kiện đối với yêu cầu ông V và bà B phải trả lại chi phí đầu tư lối đi được như hiện na cho ôn bà là 9 900 000 đồng. Trường hợp yêu cầu khởi kiện có được chấp nhận ha khôn thì ôn bà cũn không yêu cầu gì về chi phí này.
Đối với kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản nguyên đơn đồng ý, không yêu cầu định giá lại và yêu cầu giải quyết theo qu định.
Tại văn bản trình bày ý kiến, biên bản hòa giải cũng như tại phiên tòa bị đơn bà Nguyễn Thị Bé B trình bày:
Bà và chồng là Bành Quốc V là chủ sử dụng phần đất diện tích khoảng gần 2.700m2 thửa đất số 61, tờ bản đồ 14 tọa lạc tại ấp Vĩnh Hưn 1, xã Vĩnh Thành, hu ện Chợ ách, tỉnh ến Tre Phần đất của bà có giáp ranh với phần đất của ông H và bà N một góc nhỏ (không biết thửa đất của ông H). Việc ông H trình bày lối đi này là lối đi tru ền thống, tồn tại gần 50 năm và bà cho ông H đi là khôn đún Phần lối đi nà là bờ mẫu, chứ không phải lối đi chun Ôn H có đi trên lối đi nà trước đâ nhưn trước đâ chỉ là bờ mẫu nhỏ, tuy nhiên ông H có lối đi khác trước khi đi trên bờ mẫu nà , nhưn khôn biết sau này có mâu thuẫn gì với chủ đất bên kia nên ông H mới qua bên bờ mẫu trên đất bà để đi, khi đi ôn H không có hỏi ý bà, ông H tự ý đi, muốn đi đườn nào thì đi vì ôn có nhiều đườn đi khác Ôn H tự ý đi trên đất bà thời gian sau này, đất của bà không phải là đườn đi nên bà khôn đồng ý cho ông H đi. Phần thỏa thuận trước đâ iữa ông V với ông K thì sau này ông K đã bán phần đất nà cho n ười khác và họ đã cuốc bờ mẫu này chỉ còn lại một phần bờ mẫu bên bà.
Phần bờ mẫu mà ông H đi thì nằm ở n oài vườn của bà, cách nhà bà khoảng 200m, bà trồn câ lâu năm như măn cụt, dừa; vợ chồng bà già lớn tuổi bệnh già nên đi lại khó khăn, nhà chỉ có vợ chồng bà nên bà khôn có đi ra vườn. Lâu lâu thì bà thuê n ười hái trái cây, bẽ dừa rồi bán cho n ười ta luôn, hơn một năm na là bà khôn đi ra tới vườn. Việc ông H kè và đổ đá trên đườn đi là bà hoàn toàn không hay biết gì, ông H cũn khôn xin phép bà, bà cũn khôn biết vì sao đất bà mà ông H tự ý đổ đá mà khôn hỏi bà Đến khi trước tết năm 2022 nà con bà đi làm về nhà ra vườn thăm vườn thì mới biết đườn đã bị đổ đá, con bà hỏi bà nói không biết ai đổ rồi bà mới kêu ông H hỏi tại sao đổ đá trên đất bà mà không hỏi bà thì ông H không nói tiến nào; sau đó ia đình bà rào bằn lưới B40 ở hai đầu bờ mẫu lại, không cho đi nữa. Hơn nữa khi để bờ mẫu như vậy trái cây của bà bị mất rất nhiều, nên bà rào lại để bảo vệ tài sản của bà.
Nay bà và ông V khôn đồng ý mở lối đi cho ôn H, bà N do ông H, bà N có lối đi khác để đi ra đường công cộng từ xưa đến giờ. Việc ông H muốn đi thì phải hỏi chủ đất chứ tự ý đi rồi tranh chấp với chủ đất thì không ai chịu cho đi
Đối với kết quả đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản thì bị đơn không có ý kiến gì, không yêu cầu định giá lại.
Tại Biên bản làm việc ông Bành Quốc V trình bày: Ông V đồng ý với lời trình bày của bà B, ôn khôn đồng ý mở lối đi theo yêu cầu của ông H, bà N. Ôn đề nghị xét xử vắng mặt ông.
Tại văn bản trình bày ý kiến, biên bản hòa giải cũng như tại phiên tòa bị đơn ông P và bà P trình bày:
Ông bà là chủ sử dụng phần đất thuộc thửa đất số 553, tờ bản đồ 14 tọa lạc tại ấp Vĩnh Hưn 1, xã Vĩnh Thành, hu ện Chợ ách, tỉnh ến Tre Phần đất của ông bà trước giờ không có lối đi, phần đất ông H yêu cầu mở lối đi này không phải là lối đi công cộn , nhưn do trước đâ phía ôn H1 xin lối đi nên vợ chồng ông bà mới cho đi nhưn chỉ cho ông H1 đi mà khôn có ôn H, khoản 10 năm na thì phía ôn H1 khôn còn đi nữa, hiện nay phần đất này ông bà đã kéo lưới B40 rào sát hong nhà, còn bên kia ranh thì chủ đất cũn kéo hàn rào, ở giữa là con hẻm chỉ đi bộ được. Nay qua yêu cầu của n u ên đơn thì vợ chồng ông bà khôn đồn ý cho đi vì phía ông H ha phá, đập chó của ia đình ông bà, thải xác chó ở hong nhà ông bà và tự nhiên thưa ông bà ra xã. Lối đi nà ông bà không cho ông H đi khoảng nữa năm na , lối đi nà hiện nay ông bà đã rào lại, phía ông H hiện đan đi trên lối đi khác bên đất của ia đình ôn H và ông H cũn có lối đi khác sử dụng từ xưa đến giờ nên nay ông bà yêu cầu ông H trước giờ đi trên lối đi nào thì iờ đi trên lối đi đó.
Đối với kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản nguyên đơn đồng ý, không yêu cầu định giá lại và yêu cầu giải quyết theo quy định.
* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và n ười tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đã thực hiện đún qu định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của n u ên đơn
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và tố tụng: Đây là vụ án là “Tranh chấp qu ền về lối đi qua” được Tòa án xem xét giải quyết theo qu định tại khoản 2 Điều 26 ộ luật tố tụn dân sự, Điều 254 của Bộ luật dân sự năm 2015 Bị đơn ôn ành Quốc V có yêu cầu xét xử vắng mặt, do đó HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt ông là phù hợp với Điều 228 BLTTDS.
Xét yêu cầu khởi kiện của n u ên đơn: Ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị N có đứng tên quyền sử dụn đất thuộc thửa 85, tờ bản đồ số 14, giáp với thửa 85 của ông H là thửa 61, tờ bản đố số 14 của ông Bành Quốc V và bà Nguyễn Thị Bé B và thửa 553, tờ bản đồ số 14 của ông Nguyễn Vũ P và bà Nguyễn Thị P Để đi ra được đường công cộng ông H phải đi qua đất của ông Bành Quốc V và ông Nguyễn Vũ P và cho rằng là lối đi tru ền thống có từ trước năm 1975 và lối đi nà vào năm 2000 phía ông V cũn cam kết với ông K (là chủ đất trước đâ iáp ranh đất ông V) để làm lối đi phần bờ mẫu Đến năm 2021 thấy lối đi ẩm thấp nên ông H mới sửa chữa nâng cấp lại lối đi thì phía ôn V, bà B rào lại khôn cho đi Quá trình khởi kiện thì phía ông Nguyễn Vũ P cũn khôn cho ôn H đi trên phần đất của ôn để ra đường công cộng. Do đó ôn H, bà N khởi kiện ông V và ông P cùng mở lối đi cho gia đình ôn
Phía bị đơn bà B cho rằng phần lối đi ôn H yêu cầu mở là bờ mẫu mà không phải là lối đi, cũn khôn phải là lối đi tru ền thống, ông H có đi trên lối đi nà trước đâ nhưn trước đâ chỉ là bờ mẫu nhỏ, ông H có lối đi khác trước khi đi trên bờ mẫu nà , nhưn khôn biết sau này có mâu thuẫn gì với chủ đất bên kia nên ông H mới qua bên bờ mẫu trên đất bà để đi, ông H tự ý vào đất bà và làm lối đi mà khôn hỏi ý kiến bà B nên bà khôn đồn ý cho đi
Phía ông Nguyễn Vũ P, bà P cho rằng phần đất của ôn bà trước giờ không có lối đi, phần đất ông H yêu cầu mở lối đi này không phải là lối đi côn cộn , nhưn do trước đâ phía ôn H xin lối đi nên vợ chồng ông bà mới cho đi nhưn chỉ cho ông H đi mà khôn có ôn H, khoản 10 năm na thì phía ôn H khôn còn đi nữa, hiện nay phần đất này ông bà đã kéo lưới B40 rào sát hong nhà, còn bên kia ranh thì chủ đất cũn kéo hàn rào, ở giữa là con hẻm chỉ đi bộ được nên khôn đồng ý mở lối đi
Phần đất yêu cầu mở lối đi thuộc thửa 61 do ông Bành Quốc V đứng tên quyền sử dụng và thửa 553 do ông Nguyễn Vũ P đứng tên quyền sử dụng cùng tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại ấp Vĩnh Hưn 1, xã Vĩnh Thành, hu ện Chợ lách, tỉnh Bến Tre. Phần đất yêu cầu mở lối đi qua xem xét thẩm định, định giá ghi nhận như sau: biên bản ghi nhận ngày 07/4/2022, hiện trạng trên lối đi khôn có câ trồng, trên hai đầu lối đi phía n u ên đơn êu cầu mở thuộc thửa 61 của ông Bành Quốc V có kéo lưới B40 tạm di dời được, hiện trạng trên lối đi có đóng cọc hai bên bằng gỗ tạp, gia cố hai bên lối đi bằn bao đất, phía trên rãi đá mi. Giá trị đất được xác định là 800.000đ/1m2, đối với chi phí phía n u ên đơn cải tạo lối đi khôn êu cầu định giá vì không tranh chấp. Tứ cận lối đi êu cầu mở, phía đôn giáp thửa 85 của ông Hiểu, phía tây giáp thửa 553 của Nguyễn Vũ P, phía nam giáp thửa 75, phía bắc giáp thửa 61 còn lại; Biên bản thẩm định, định iá n à 24/8/2022 xác định lối đi êu cầu mở thuộc thửa 553, tờ bản đồ số 14 do ông Nguyễn Vũ P đứng tên quyền sử dụng, trên lối đi khôn có câ trồng, lối đi êu cầu mở một bên là hàng rào thuộc thửa 90 của Trần Văn N, một bên hàn hàn rào lưới B40 của ông P. Hiện trạng lối đi êu cầu mở nay chỉ vừa kích thước đi bộ, không chạ xe được, nối liền lối đi nà là lối đi được thẩm định ngày 07/4/2022 của thửa 61, lối đi trên thửa 61 là nằm giữa con mươn lạng, một bên là hàn rào lưới B40 làm ranh giữa thửa 61 với thửa 45. Trên thửa 85 của ông H có một chòi giữ vườn mà không có nhà ở, nhà ở của ông H trên thửa 541; Giá đất yêu cầu mở lối đi thửa 553 là 1 200 000đ/1m2.
[2 2] HĐXX xét thấ n u ên đơn ôn N u ễn Văn H và bà Nguyễn Thị N có đứng tên quyền sử dụng các thửa đất gồm 85, 491, 492 và 541, trên phần đất thửa 541 có ngôi nhà do vợ chồng ông H sinh sống, thửa 85 có chòi giữ vườn, qua thẩm định tất cả các thửa đất ông H đều bị vây bọc bởi các thửa đất liền kề mà không tiếp giáp với đường công cộng. Qua xác minh thì ia đình ôn H trước đâ đi trên phần đất của bà Nguyễn Huyền P để đi ra đường công cộng, nhưn sau đó có tranh chấp hai bên nên khôn còn đi lối đi nà , sau đó mới đi trên đất của ông P và ông V rồi bị rào lại nên hiện tại đi trên đất của Nguyễn Văn N (B) và Nguyễn Hiếu N (cháu ruột của ông H). Qua thực tế xác minh và thẩm định, HĐXX nhận thấy hiện trạn nơi ở của ông H và bà N (có nhà ở) là thuộc thửa 541, còn đối với thửa 85 là chòi giữ vườn. Hiện tại ia đình ôn H từ nhà đi tạm qua phần đất các thửa 104 và 573 để đi ra đường công cộn , nhưn phải qua bức tường xây rạch cao 02m trên thửa 573 nên rất khó khăn
Quá trình giải quyết vụ án phía n u ên đơn cho rằng phía ông Bành Quốc V và ông Nguyễn Văn K vào năm 2000 có thỏa thuận bờ mẫu là làm bờ đi là thuộc quyền của ông K, mà không còn là bờ của ông V nữa và có xác nhận của trưởng ấp vào thời điểm đó, tu nhiên đâ là việc thỏa thuận giữa ông V và ông K, nhưng theo thẩm định và thu thập chứng cứ thì phần đất có bờ mẫu này ông K đã chuyển cho n ười khác hiện không còn bờ mẫu của ông K, hơn nữa thỏa thuận đó chỉ có giá trị tham khảo mà không phải sự thỏa thuận giữa n u ên đơn và bị đơn. Đồng thời tại phiên tòa phía n u ên đơn cũn thừa nhận trước đâ ôn H1 có bơm cát đi qua đất của ông T và bà Huyền P để ra đường công cộn nhưn do bà P yêu cầu trả giá trị đất cao nên ông H khôn đồng ý cùng ông H1 đi lối đi nà
[2 4] Theo qu định tại Điều 254 BLDS qu định: “Chủ sở hữu có bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản của các chủ sở hữu khác mà không có hoặc không đủ lối đi ra đường công cộng, có quyền yêu cầu chủ sở hữu bất động sản vây bọc dành cho mình một lối đi hợp lý trên phần đất của họ.”
“Lối đi được mở trên bất động sản liền kề nào mà được coi là thuận tiện và hợp lý nhất, có tính đến đặc điểm cụ thể của địa điểm, lợi ích của bất động sản bị vây bọc và thiệt hại gây ra là ít nhất cho bất động sản có mở lối đi”.
Theo qu định trên, phía ông H có bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản của các chủ sở hữu khác mà không có lối đi là phù hợp với thực tế, do đó ôn H, bà N có quyền yêu cầu mở lối đi ra đường công cộng. Tuy nhiên, lối đi nào được coi là thuận tiện và hợp lý nhất, tránh ảnh hưởn đến lợi ích của bất động sản có mở lối đi mới được xem là phù hợp. Qua xem xét thẩm định thực tế, ghi nhận trước đâ ôn H đã đi trên một lối đi khác mà khôn đi trên lối đi êu cầu mở, việc sử dụng lối đi yêu cầu mở là không liên tục mà ông H, bà N có sử dụng lối đi khác, đồng thời qua xác minh, thẩm định cũn như sự thừa nhận của phía ông H thì trước đâ ôn có đi trên lối đi qua thửa 542, 521 của ông Nguyễn Văn H2 hiện do bà Nguyễn Huyền P là con gái quản lý, qua thửa 522 của ông Huỳnh Văn T, đến thửa 523 của Nguyễn Huyền P để ra đường công cộng. Theo yêu cầu mở lối đi của ông H thì ngoài việc qua đất bị đơn ôn V ông P thì trước đó phải qua đất của thửa 524, 493 của Nguyễn Huyền T nhưn khôn có êu cầu mở, đồng thời so sánh về đoạn đường mở thì lối đi n u ên đơn êu cầu mở là không thuận tiện vì khoản cách ra đường công cộng xa hơn những bất động sản khác, nên không thuận tiện và ảnh hưởn đến nhiều bất động sản phải mở lối đi
Từ đó việc yêu cầu mở lối đi của ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị N là khôn có cơ sở nên không chấp nhận.
Đình chỉ đối với yêu cầu hoàn trả chi phí cải tạo lối đi 9 900 000đ của ông H đối với ông V và bà B.
Xét phát biểu và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre là phù hợp nên chấp nhận.
Chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định, định giá và thu thập chứng cứ là 6.556.000 đồn N u ên đơn phải chịu và đã nộp xong.
Án phí dân sự sơ thẩm: Xét yêu cầu về việc mở lối đi của n u ên đơn không được chấp nhận nên phải liên đới chịu án phí không có giá ngạch. Tuy nhiên do ông H, bà N thuộc trường hợp n ười cao tuổi nên được miễn án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 245, 254 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 147, 157, 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủ ban Thường vụ Quốc hội qu định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
1/. Không chấp nhận yêu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị N đối với ông Bành Quốc V, bà Nguyễn Thị Bé B, ông Nguyễn Vũ P và bà Nguyễn Thị P về việc “Quyền về lối đi qua”
2/. Đình chỉ đối với yêu cầu hoàn trả chi phí cải tạo lối đi 9 900 000đ của ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị N đối với ông Bành Quốc V và bà Nguyễn Thị Bé B.
3/. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị N được miễn án phí.
4/. Chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị N phải chịu số tiền 6.556.000 đồng và đã nộp xong.
5/. Các đươn sự có qu ền làm đơn khán cáo tron thời hạn 15 (mười lăm) n à , kể từ n à tu ên án Riên đươn sự vắn mặt tại phiên tòa được qu ền khán cáo tron thời hạn 15 (mười lăm) n à kể từ n à nhận được bản án hoặc bản án được tốn đạt hợp lệ
Trường hợp bản án được thi hành theo qu định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì n ười được thi hành án, n ười phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qu định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - - Các đươn sự; - - VKSND huyện Chợ Lách; - - Chi cục THADS huyện Chợ Lách; - - Phòng KTNV&THA TAND tỉnh Bến Tre; - ưu: Văn phòn , hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Chí Đức |