- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng Phi H phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 207/2021/HS-ST Ngày: 18/5/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Thanh Lâm
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Chi
2. Ông Võ Văn Lợi
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền Lương – Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí
Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Việt Tiến- Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, xét
xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 145/2021/TLST/HSST ngày 15
tháng 4 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 237/2021/QĐXXST-HS
ngày 06 tháng 5 năm 2021, đối với bị cáo:
Nguyễn Hoàng Phi H (tên gọi khác: không), sinh năm 1994, tại: Thành phố Hồ
Chí Minh; Thường trú: đường X, khu phố 5, phường L, thành phố Đ, Thành phố Hồ
Chí Minh; Chỗ ở: đường L, khu phố 1, phường T, thành phố Đ, Thành phố Hồ Chí
Minh; Nghề nghiệp: Chạy xe ôm; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính:
Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Trần Đức H; Mẹ: Nguyễn Thị
H;Vợ, con: chưa có; Bị bắt, tạm giam từ ngày 14/7/2020; Tiền án: Không; Tiền sự:
Ngày 24/11/2017 bị Tòa án nhân dân quận Thủ Đức áp dụng biện pháp xử lý hành
chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 02 năm về hành vi sử dụng ma
túy theo Quyết định số 345/QĐ-TA ngày 24/11/2017, ngày 16/3/2019 chấp hành xong.
Nhân thân: Ngày 25/02/2015, bị Tòa án nhân dân Quận 9 áp dụng biện pháp xử lý
hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 02 năm về hành vi sử
dụng ma túy theo Quyết định số 57/2015/QĐ-TA ngày 25/02/2015, ngày 08/12/2016
chấp hành xong. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
Nguyễn Hoàng Phi H là người nghiện ma túy từ năm 2015 đến ngày bị bắt. Để có
tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng, H mua ma túy về chia nhỏ ra để bán cho người nghiện kiếm lời. Khoảng 11 giờ ngày 14/7/2020, H đón xe đến đường Tô Ngọc Vân, phường Tam phú, quận Thủ Đức (nay là thành phố Thủ Đức), Thành phố Hồ Chí Minh gặp người phụ nữ tên H không rõ lai lịch mua ma túy với giá 1.000.000 đồng rồi đem về phòng 309 khách sạn “Sạch” số 76/2N đường Lê Văn Chí, khu phố 1, phường Linh Trung, thành phố Thủ Đức chia nhỏ ra. Khoảng 18 giờ cùng ngày, H nhận được điện thoại của người không rõ lai lịch hỏi mua ma túy với giá 1.000.000 đồng, thì H đồng ý và hẹn địa điểm giao ma túy. Khoảng 20 phút sau, H đi ra khỏi phòng 309 của khách sạn “Sạch” để bán ma túy thì bị Công an thành phố Thủ Đức kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ: 03 gói nylong hàn kín bên trong chứa tinh thể không màu do H cầm trên tay phải thả xuống nền gạch ngay chỗ H đang đứng. Sau đó, kiểm tra phòng 309 của khách sạn "Sạch” do H thuê ở thu giữ gồm: 01 gói nylong chứa tinh thể không màu thu giữ trong hộp dây cáp sạc điện thoại do H để trên nền gạch phòng 309; 01 viên nén màu xanh thu giữ trong túi màu đỏ để đầu giường của phòng 309; 01 cân điện tử; 01 bình sử dụng ma túy; 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen. Ngoài ra, tại thời điểm bắt quả tang ở phòng 309 của Hiểu có mặt Phan Thị Kim N nên Công an thành phố Thủ Đức đã đưa tất cả cùng vật chứng về lập biên bản phạm tội quả tang để xử lý (BL: 51- 52). H khai số ma túy trên là của H mua về để bán kiếm tiền lời. Cách thức bán ma túy của H là khi ai cần mua ma túy thì gọi vào số điện thoại và hẹn địa điểm giao ma túy. Việc mua bán ma túy do một mình H thực hiện, Ngọc không biết hay liên quan đến việc bán ma túy của H. Trước đó, H đã bán ma túy cho Nguyễn Khánh A là được 04 lần, mỗi lần giá 300.000 đồng; Huỳnh Vũ L được 02 lần, mỗi lần 200.000 đồng; Trần Quang T được 4 lần, mỗi lần giá 300.000 đồng.
Phan Thị Kim N khai là bạn gái của H, sống với H như vợ chồng tại khách sạn
Sạch. Khi khám xét tại phòng 309 tại khách sạn “Sạch” có mặt N đang ngủ trên giường. N không biết H bán ma túy và không liên quan đến số ma túy thu giữ của H.
Qua truy xét đã xác định những người nghiện mua ma túy của H như sau:
- Trần Quang T, sinh năm 1996 khai: đã mua ma túy của H được 5 lần, cụ thể
ngày gần nhất là ngày 12/7/2020 với giá từ 200.000 - 500.000 đồng (BL 88-89).
- Huỳnh Vũ L, sinh năm 2004, khai: đã mua ma túy của H tại đường Chương
Dương, phường Linh Chiểu, thành phố Thủ Đức được 2 lần, mỗi lần với giá 300.000 đồng, lần gần nhất vào ngày 09/7/2020 (BL: 86-87).
- Nguyễn Khánh A, sinh năm 1988, khai: đã mua ma túy của H được 4 lần, mồi
lần giá 300.000 đồng. Khi nào mua thì gọi trực tiếp vào số điện thoại của H, sau đó H
hẹn địa điểm giao ma túy (BL: 84-85).
- Nguyễn Hoài P, sinh năm 1999, khai: Phong chạy xe Grabbike được Hiểu thuê
chở đi công việc được 5-6 lần, mỗi lần đi H trả công cho 50.000 đồng. Phong không
biết hay liên quan đến việc mua bán ma túy của H.
Kết luận giám định số 1200/KLGĐ - H ngày 22/7/020 của Phòng Kỹ thuật hình
sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:
- Gói 01: tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m1 cần giám định là ma túy ở thể
rắn, có tổng khối lượng 1,2878g, loại Methamphetamine
- Gói 02: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m2 cần giám định là ma túy ở
thế rắn có khối lượng 0,5722g, loại Methamphetamine
- Gói 03: 01 viên nén màu xanh được ký hiệu mẫu m3 cần giám định có khối
lượng 0,3247g, không tìm thấy ma túy (BL: 30).
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Hoàng Phi H không thừa nhận số ma túy trên để
bán và đã bán ma túy cho Khánh Anh, Luật và Thái, mà để sử dụng. Sau đó, H thay
đổi lời khai thừa nhận hành vi phạm tội của mình như trên.
Tại bản Cáo trạng số 120/CT-VKS ngày 14/4/2021, Viện kiểm sát nhân dân
thành phố Thủ Đức đã truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng Phi H về tội: “Mua bán trái phép
chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, đã
được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Nguyễn Hoàng Phi H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung
cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố, bị cáo thành khẩn
khai báo, ăn năn hối cải.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến giữ nguyên
quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng Phi H về tội: “Mua bán trái phép chất ma
túy”.
Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được
sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Hoàng Phi H, tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s
Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Phi H từ 08 năm
đến 09 năm tù, vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không tranh luận, bào chữa.
Bị cáo nói lời sau cùng: xin giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào
kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công
an thành phố Thủ Đức, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung:
Về nội dung: Căn cứ các tài liệu chứng cứ thu thập được và kết quả tranh luận tại
phiên tòa có đủ căn cứ kết luận hành vi phạm tội cụ thể của bị cáo như sau:
Lúc 18 giờ 20 phút ngày 14/7/2020, tại trước phòng 309 khách sạn Sạch, địa chỉ
số 76/2N đường Lê Văn Chí, khu phố 1, phường Linh Trung, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Hoàng Phi H có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy ở thể rắn có khối lượng 1,8600g loại Methamphetamine để bán thì bị bắt quả tang. Trước đó, H đã bán ma túy cho Nguyễn Khánh A được 04 lần, Huỳnh Vũ L được 02 lần; Trần Quang T được 04 lần.
Như vậy, có đủ cơ sở pháp lý kết luận bị cáo Nguyễn Hoàng Phi H đã phạm vào
tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Hoàng
Phi H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, giảm cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra các bị cáo phải chịu.
Đối với người phụ nữ tên H do Nguyễn Hoàng Phi H khai bán ma túy cho H
(không rõ lai lịch). Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận Thủ Đức tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Đối với Nguyễn Khánh A, Huỳnh Vũ L, Trần Quang T, Nguyễn Hoài P là người
nghiện ma túy. Công an thành phố Thủ Đức ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Đối với việc Phan Thị Kim N khai ma túy do H cho để sử dụng, còn Hiểu không
thừa nhận là người cung cấp ma túy cho N sử dụng. Sau đó N thay đổi lời khai H
không cung cấp ma túy cho N sử dụng, ma túy có để sử dụng là do N tự lấy của H và
khách sạn là hai người tự bỏ tiền ra thuê chung. Ngoài lời khai ban đầu của N ra không
còn chứng nào khác để chứng minh H là người cung cấp ma túy cho N sử dụng. Do
đó, không có căn cứ để xử lý H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy
định tại điều 255 Bộ luật hình sự.
Đối với việc Nguyễn Hoài P khai: Khoảng 13 giờ ngày 11/7/2020, Phong chở H
đi công việc và được H trả công 50.000 đồng, sau đó H rủ Phong lên phòng 309 và nói
“có bình đó, có hút không”, Phong biết là ma túy và lần đầu hút thử. H không thừa
nhận là người rủ Phong sử dụng ma túy. Ngoài lời khai của Phong ra không còn chứng
nào khác để chứng minh H là người lôi kéo Phong sử dụng ma túy. Do đó, không có
căn cứ để xử lý H về tội “Lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy” quy định
tại Điều 258 Bộ luật hình sự.
Về xử lý vật chứng:
- 03 gói niêm phong ghi vụ số 1200 có chữ ký GĐV Phan Hoàng Trạc trong là
mẫu vật còn lại sau khi giám định, là vật cấm lưu hành, cần tịch thu, tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động hiệu Nokia, 01 cân điện tử liên quan đến việc phạm tội,
cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
- 01 bình sử dụng ma túy, không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng Phi H phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma
túy”.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự
năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Phi H: 09 (chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày
14/7/2020.
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và căn
cứ vào Điều 106 Bộ luật tố tụng hình năm 2015:
+ Tịch thu tiêu hủy: 03 gói niêm phong ghi vụ số 1200 có chữ ký GĐV Phan
Hoàng Trạc trong là mẫu vật còn lại sau khi giám định; 01 bình sử dụng ma túy.
+ Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Nokia, 01
cân điện tử.
(Theo Phiếu nhập kho số 135 ngày 14/4/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự
thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm
2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Nguyễn Hoàng Phi H chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự
sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt tại
phiên tòa có quyền kháng cáo bản án.
| Nơi nhận: - Bị cáo, Bị hại; - VKSND, CA, Chi cục THA thành phố Thủ Đức; - PC27; - VKSND Tp.HCM; - Sở Tư pháp Tp.HCM; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thanh Lâm |