- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu Kim T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu Kim T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 207/2020/HS-ST Ngày: 21 - 7 - 2020. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huệ
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Ngọc Hồng;
Bà Phạm Thị Thu Yến.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Cảnh Khang, Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Năm - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 198/2020/TLST- HS ngày 03 tháng 7 năm 2020 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 200/2020/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Hữu Kim T, sinh năm 1987 tại tỉnh Bình Dƣơng; nơi đăng ký hộ khẩu thƣờng trú: Số B, tổ 10, khu phố L, phƣờng T, thành phố A, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu L, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị Kim D, sinh năm 1965; bị cáo chƣa có vợ, bị cáo có 01 con sinh năm 2017; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không có. Bị bắt, tạm giam ngày 18 tháng 3 năm 2020 đến nay. Có mặt.
Người làm chứng:
Dƣơng Thị Kim Ng. Vắng mặt.
Trần Thái H. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 17.3.2020, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy Công an thị xã (nay là thành phố) A phối hợp với Công an phƣờng T tiến hành kiểm tra hành chính cơ sở trọ tại A khu phố L, phƣờng T, thị xã (nay là thành phố) A, tỉnh Bình Dƣơng. Khi kiểm tra phòng số 3 do Nguyễn Hữu Kim T và Dƣơng Thị Kim Ng thuê ở thì T khai nhận bản thân có sử dụng ma túy đá, đồng thời lên gác phòng trọ lấy xuống giao nộp cho lực lƣợng kiểm tra 01 túi ni lon dạng kéo dính chứa tinh thể màu trắng, 01 túi ni lon dạng kéo dính chứa 05 gói ni lon hàn kín chứa tinh thể màu trắng, 01 bộ sử dụng ma túy đá. T khai nhận là ma túy loại đá do Nguyễn Hữu Kim T mua của một đối tƣợng nam thanh niên (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) tại khu vực chân cầu Bình Triệu, quận Đ, Thành phố Hồ Chí Minh vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 17.03.2020 với số tiền là 1.200.000 đồng.
Tang vật thu giữ: 05 gói ni lon hàn kín, bên trong chứa tinh thể màu trắng (nghi ma túy đá), 01 túi ni lon miệng kéo dính bên trong chứa tinh thể màu trắng (nghi ma túy đá), 01 bộ sử dụng ma túy đá.
Ngày 26/3/2020, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng có kết luận giám định số 143/MT-PC09, kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định đều là ma túy, có khối lƣợng là 0,5084 gam (M1), 0,5462 gam (M2-1); 0,3988 gam (M2-2), tổng cộng: 1,4534 gam loại Methamphetamine.
Tại bản Cáo trạng số 214/CT-VKS - TA ngày 02/7/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố A, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu Kim T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà trình bày lời luận tội trong đó có nội dung vẫn giữ nguyên quyết định Cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Nguyễn Hữu Kim T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 bì thƣ đã niêm phong ký hiệu 143/MT-PC09 mẫu vật hoàn lại sau giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng và 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy là vật chứng trong vụ án nên cần tịch thu tiêu hủy.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội giống nội dung Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo đã ăn năn hối cải và xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hữu Kim T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng nhƣ nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố A, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo trƣớc Tòa. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của ngƣời làm chứng, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 17/3/2020, Nguyễn Hữu Kim T thực hiện hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, có tổng khối lƣợng là 1,4534 gam loại Methamphetamine, tại địa chỉ: 56/3 khu phố L, phƣờng T, thị xã (nay là thành phố) A, tỉnh Bình Dƣơng, nhằm mục đích sử dụng. Do đó, Cáo trạng truy tố bị cáo Nguyễn Hữu Kim T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức đƣợc hành vi cố ý tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng là vi phạm pháp luật Hình sự nhƣng để thỏa mãn cơn nghiện, bị cáo đã cất giấu ma túy, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nƣớc, gây mất trật tự, trị an tại địa phƣơng. Vì vậy phải xét xử mức án tƣơng xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đƣợc quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Đối với Dƣơng Thị Kim Ng không biết việc bị cáo T có cất giấu ma túy nên không có cơ sở xem xét xử lý hình sự. Qua kiểm tra Ngọc có sử dụng ma túy nên Công an phƣờng T, thành phố A, tỉnh Bình Dƣơng đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với số tiền 750.000 đồng là đúng quy định pháp luật.
Đối với đối tƣợng bán ma túy cho bị cáo hiện không xác định đƣợc nhân thân lai lịch, khi nào có căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát có căn cứ, đúng pháp luật nên đƣợc chấp nhận.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 bì thƣ đã niêm phong ký hiệu 143/PC09 mẫu vật hoàn lại sau giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng và 01 (một) bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy là vật chứng trong vụ án nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu Kim T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Kim T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18 tháng 3 năm 2020.
2. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thƣ đã niêm phong ký hiệu 143/PC09 mẫu vật hoàn lại sau giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng và 01 (một) bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy (theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 26/6/2020 giữa Công an thành phố Thuận An và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng).
3. Về án phí:
Buộc bị cáo Nguyễn Hữu Kim T phải nộp 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thành phố A; - Chi cục THADS thành phố A; - Cơ quan CSĐT Công an thành phố A; - Cơ quan THAHS Công an thành phố A; - Sở Tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng; - Bị cáo; - Lƣu: HS, THAHS, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Huệ |