- Tranh chấp gì? án hình sự — "249. Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Hải Q phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH THANH HÓA Bản án số: 207/2018/HSST Ngày: 11/9/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T- TỈNH THANH HÓA
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa:
Bà Lê Thị Hoa
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trịnh Xuân Tính
2. Bà Lê Thị Mơi
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện VKSND thành phố T, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Duy Thi - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 297/2018/HSST ngày 10/8/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 217/2018/QĐXXST- HS ngày 30 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:
Lê Hải Q - Sinh năm 1982; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Phố N, phường L, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Văn hóa: 10/12; con ông Lê Văn H – sinh năm 1956 và bà Nguyễn Thị N ( đã chết); tiền án, tiền sự: không. Tạm giam ngày 10/5/2018. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11h ngày 04/5/2018 tại khu vực đường N, phường L, thành phố T, tổ công tác công an phường L kiểm tra hành chính đối với Lê Hải Q do có nhiều biểu hiện nghi vấn. Q đã tự giác giao nộp cho tổ công tác một gói giấy màu trắng có dòng kẻ xanh kích thước 1x3cm bên trong chứa chất bột màu trắng. Q khai nhận đó là ma túy vừa mua để sử dụng. Tổ công tác đã đưa Q về trụ sở công an phường để lập biên bản và niêm phong vật chứng.
Tại kết luận giám định số 930/MT – PC 54 ngày 07/5/2018 của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Thanh Hóa kết luận; Chất bột màu trắng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,254 gam loại Heroine.
Quá trình điều tra Lê Hải Q khai nhận, khoảng 11h ngày 04/5/2018 Q đi đến khu vực cánh đồng rau phường L gặp và mua của một người thanh niên khoảng 20 tuổi 01 gói Heroine với giá 200.000đ, sau khi mua được ma túy Q tìm nơi để sử dụng, khi đến trước số nhà 120 đường N, phường L, thành phố T thì bị lực lượng công an kiểm tra, Q đã tự giác giao nộp gói ma túy và khai nhận hành vi phạm tội.
Đối với người thanh niên đã bán ma túy cho Lê Hải Q, Q khai không biết tên và địa chỉ của người này nên cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.
Cáo trạng số 210/CT-VKSTP ngày 09/8/2018 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố Lê Hải Q về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát thành phố T luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS, đề nghị xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù, tịch thu tiêu hủy số ma túy sau giám định.
Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Do nghiện ma túy, khoảng 11h ngày 04/5/2018 Lê Hải Q đi đến khu vực cánh đồng rau phường L gặp và mua của một người thanh niên khoảng 20 tuổi, Q không biết tên, địa chỉ của người này 01 gói Heroine với giá 200.000đ, sau khi mua được ma túy Q tìm nơi để sử dụng, khi đến trước số nhà 120 đường N, phường Lam Sơn, thành phố T thì bị lực lượng công an kiểm tra, Q đã tự giác giao nộp gói ma túy và khai nhận hành vi phạm tội.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát luận tội đã đánh giá đúng tính chất hành vi nguy hiểm của tội phạm, đồng thời vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lê Hải Q về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo nhận tội và không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng xin được giảm nhẹ hình phạt.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của bị cáo Lê Hải Q đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Tội danh và khung hình phạt áp dụng xét xử đối với bị cáo qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Bị cáo là đối tượng biết rõ ma túy có tác hại nhiều mặt đến đời sống trong các quan hệ xã hội, ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn hóa lành mạnh. Đặc biệt ma túy còn là một trong những tác nhân làm lây truyền căn bệnh HIV/AIDS phát triển, nhất là đối với những người có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, vì có tác hại như vậy nên nhà nước ta đã có nhiều biện pháp tuyên truyền giáo dục, nhằm ngăn chặn các tệ nạn và hoạt động có liên quan đến ma túy. Trong vụ án này bị cáo vì nghiện ma túy dẫn đến phạm tội, hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, mà còn tạo ra dư luận xấu trong nhân dân, tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cần phải được xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và có tính phòng ngừa chung.
Nhân thân bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự, nhưng lại là đối tượng nghiện ma túy, phạm loại tội nghiêm trọng. Vì lẽ đó cần phải cách ly khỏi xã hội để bị cáo có thời gian cải tạo, sữa chữa sai phạm, tuy nhiên khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là thành khẩn khai báo, theo qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS để bị cáo thấy được sự khoan hồng của Pháp luật.
Trong vụ án này bị cáo mua Hêrôin nhằm mục đích sử dụng, do đó không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Toàn bộ số Hêrôin thu được của bị cáo sau khi giám định có trọng lượng 0,222 gam là vật Nhà nước cấm lưu hành, cần áp dụng khoản1, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS để tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Hải Q phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 BLTTHS. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội qui định mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt: Bị cáo Lê Hải Q: 15 ( mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/5/2018.
Vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 0,222 gam Hêrôin sau giám định được niêm phong tại phong bì và có đóng dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa. Hiện tang vật đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T theo biên bản giao nhận vật chứng số 190 /THA ngày 13 tháng 8 năm 2018.
Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST.
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7,9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: -Bị cáo; -VKSNDTPTH; - Công an TP. Thanh Hóa; -Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hoa |