- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Trung Tr - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 207/2018/HS-ST Ngày: 12/9/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG - TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Thu Hiếu
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Huy Liên
Bà Nguyễn Thị Lý
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Võ Thu Thủy - Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Nha Trang tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Long – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2018 tại Trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Nha Trang – tỉnh Khánh Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 206/2018/HSST ngày 13 tháng 6 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 195/2018/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 94/2018/HSST-QĐ ngày 02 tháng 8 năm 2018 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử vụ án hình sự số 169/TB-TA ngày 30 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:
Trần Trung Tr - sinh ngày: 09/5/1999 tại Khánh Hòa; Nơi ĐKHKTT: Số 02 – khóm H – Phường V - Thành phố N – tỉnh Khánh Hòa; Trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; Nghề nghiệp: học sinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn Tr và bà: Nguyễn Thị L ; Tiền sự: không; Tiền án: không
Nhân thân: Bản án số 44/2017/HSPT ngày 29/11/2017 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xử phạt 08 năm tù về tội “Giết người”. Hiện đang chấp hành án tại trại giam A2 – Bộ Công an. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa: Luật sư Nguyễn Tường L - Văn phòng Luật sư Nguyễn Hồng H – Đoàn Luật sư tỉnh Khánh Hòa. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại: Ông Đinh Hoàng Ph – sinh năm 1972
Trú tại: tổ 31, khóm Tr, phường V, Thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Võ Vương Q – sinh năm 1990
Trú tại: 78/2 đường H, phường V, Thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.
2/ Huỳnh Thị Thúy K– sinh năm 1977
Trú tại: tổ 20, thôn H, xã V, Thành phố N, Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.
3/ Phạm Ngọc Ph – sinh năm 1967
Trú tại: tổ 20, thôn H, xã V, Thành phố N, Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.
4/ Phạm Văn Th – sinh năm 1981
Trú tại: 13 Đ, phường V, Thành phố N, Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.
5/ Huỳnh Thanh Quang – sinh năm 1982
Trú tại: thôn X, xã V, Thành phố N, Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
1/ Lư Nhất V – sinh năm 1982
Trú tại: 52/1 đường H, phường V, Thành phố N, Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.
2/ Vương Thị Mỹ D – sinh năm 1979
Trú tại: tổ 31, khóm T, phường V, Thành phố N, Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.
3/ Huỳnh Thị Thúy Ng – sinh năm 1979
Trú tại: 13 Đ, phường V, Thành phố N, Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.
4/ Phạm Như Qu – sinh năm 2000
Trú tại: 13 Đ, phường V, Thành phố N, Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.
5/ Trần Thị Th – sinh năm 1973
Trú tại: 215B L, phường V, Thành phố N, Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.
6/ Bùi Đức D – sinh năm 1985
Trú tại: 50KB C, phường V, Thành phố N, Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.
7/ Bùi Quang Đ – sinh năm 1972
Trú tại: tổ 21, thôn H, xã V, Thành phố N, Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 23/8/2015, ông Đinh Hoàng Ph đến nhà bà Huỳnh Thị Thúy K ở Tổ 20 thôn H, xã V, Thành phố N, Khánh Hòa để đòi tiền nợ thì xảy ra cãi nhau. Thấy vậy, Phạm Ngọc Ph (chồng K) từ trong nhà đi ra cầm ghế nhựa còn Ph cầm ghế gỗ lao vào đánh nhau dẫn đến hai bên xây xát nhẹ. Huỳnh Thị Thúy K gọi điện cho em gái là Huỳnh Thị Thúy Ng nhờ gọi công an xã can thiệp. Lúc này, Ng đang ngồi gần Phạm Văn Th (chồng Ng) nên Th cũng biết sự việc trên. Th điện thoại cho Trần Trung Tr nói lên nhà bà K xem có chuyện gì thì điện lại cho Th để Th hòa giải. Sau khi đánh nhau với Ph, Ph đi về nhà gặp Lư Nhất V và kể với V sự việc đánh nhau với vợ chồng ông Ph. V nói đến nhà chị K để hỏi chuyện. Khi Th và Ngđến nhà chị K, thấy Lư Nhất V chạy xe máy đến. Lúc này, tại nhà K còn có Trần Thị Th, Bùi Đức D, Huỳnh Thị Thúy Ng, Huỳnh Thanh Qu (anh họ K), Trần Trung Tr. V gọi điện cho Ph bảo Ph lên nhà chị K. Khoảng 15 phút sau, Ph cùng với Võ Vương Qu đến. Phạm Văn Th ra xe lấy bia đem vào nhà K uống để nói chuyện hòa giải. Trong lúc nói chuyện thì K và Ph tiếp tục cãi nhau về việc nợ tiền. Huỳnh Thanh Qu cầm ghế nhựa đánh Ph nhưng được mọi người can ngăn. Thấy vậy, Tr chạy tới bụi cây lấy cây mác chạy đến rượt đuổi chém Qu nhưng Qu bỏ chạy thoát. Tr quay lại thấy Ph đang đứng dưới bãi rau trước nhà K nên Tr cầm mác chạy xuống rượt đuổi Ph, Phchạy được 20 mét thì vấp ngã nằm xuống đất, Tr lao tới dùng mác chém ba nhát vào vùng khuỷa tay trái, vùng mu bàn tay trái và vùng cẳng tay phải của Ph gây thương tích. Sau đó, Ph được đưa đi bệnh viện cấp cứu, còn Tr cầm cây mác chạy xuống công viên khu vực đường Đ – Phường V – Thành phố N cất giấu rồi đi về nhà.
Ngày 30/8/2015, Đinh Hoàng Ph có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.
Tại bản kết luận giám định y pháp về thương tích số 96/16/TgT ngày 26/9/2016 của Phân Viện tại TP. Hồ Chí Minh – Viện pháp y quốc gia kết luận:
- Các sẹo phần mềm ở cẳng khuỷa tay trái, mu bàn tay trái và cẳng tay phải.
- Gãy xương bàn IV, V bàn tay trái.
- Đứt gân duỗi ngón III, IV, V bàn tay trái đã được phẫu thuật khâu nới, ảnh hưởng rất ít đến động tác gấp, duỗi ngón tay.
- Tổn thương không hoàn toàn nhánh cảm giác bì mu tay của dây thần kinh trụ trái do vết thương mu tay trái.
Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 17% theo nguyên tắc cộng lùi.
Tại Bản cáo trạng số 101/CT-VKSNT ngày 26/3/2018 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Nha Trang đã truy tố bị cáo Trần Trung Tr về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 2 Điều 104 (dẫn chiếu đến điểm a và điểm i khoản 1) của Bộ luật hình sự năm 1999. Đồng thời đề nghị áp dụng điều khoản có lợi hơn cho bị cáo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 (dẫn chiếu đến điểm a và điểm i khoản 1 Điều 134) của Bộ luật hình sự năm 2015 cho bị cáo.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Nha Trang đã giữ nguyên kết luận truy tố đối với bị cáo; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Trần Trung Tr từ 1 năm 06 tháng đến 2 năm tù. Tổng hợp hình phạt 8 năm tù của Bản án số 44/2017/HSPT ngày 29/11/2017 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội có diễn biến như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Nha Trang đã nêu và cho rằng việc truy tố bị cáo là đúng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: tại phiên tòa, vắng mặt người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Xét thấy việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ theo các Điều 292 và 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về hành vi phạm tội của bị cáo theo cáo trạng truy tố thì thấy: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội có diễn biến như nội dung Bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Đủ căn cứ để xác định: Vào khoảng 17 giờ 00 phút ngày 23/8/2015, tại khu vực Tổ 20 thôn H – xã V – Thành phố N, Trần Trung Tr đã dùng mác chém vào vùng khuỷu tay trái, vùng mu bàn tay trái và vùng cẳng tay phải của ông Đinh Hoàng Ph gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 17%.
Hành vi của bị cáo Trần Trung Tr đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 2 Điều 104 (dẫn chiếu đến điểm a và điểm i khoản 1) của Bộ luật hình sự năm 1999. Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Nha Trang đối với bị cáo là đúng người, đúng tội.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, thể hiện tính côn đồ hung hãn, đã dùng hung khí là mác để xâm phạm sức khỏe người khác và gây mất trật tự, trị an địa phương. Nhưng xét bị cáo cũng đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Trong hồ sơ thể hiện bà Huỳnh Thị Thúy K đã bồi thường cho người bị hại số tiền 30.000.000 đồng. Bà K khai do thấy hoàn cảnh bị cáo khó khăn nên đã tự nguyện bồi thường cho người bị hại. Tuy vậy, không có chứng cứ thể hiện bà K đã cho bị cáo tiền bồi thường hoặc thay mặt bị cáo để bồi thường nên bị cáo không được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm b khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999. Tuy nhiên, bản thân người bị hại sau khi được bồi thường cũng đã xin giảm nhẹ hình phạt; khi phạm tội khi đang còn trong độ tuổi chưa thành niên. Từ những nhận định trên, xét cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 và áp dụng quy định chính sách người chưa thành niên phạm tội tại Điều 69 và 74 của Bộ luật hình sự năm 1999 khi lượng hình.
Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy nên cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
Đối với hình phạt dành cho bị cáo: So sánh quy định về hình phạt tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 với khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 thì hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 là điều khoản có lợi cho người phạm tội. Do vậy, căn cứ vào khoản 3 Điều 7 của Bộ luật hình sự năm 2015, chấp nhận áp dụng hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo theo đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Nha Trang. Đồng thời, cần tổng hợp hình phạt tù của Bản án số 44/2017/HSPT ngày 29/11/2017 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng theo quy định.
Đối với Phạm Văn Th và Huỳnh Thanh Qu có dấu hiệu đồng phạm về tội cố ý gây thương tích, Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã yêu cầu điều tra làm rõ tại nội dung Bản án phúc thẩm số 71/2017/HSPT ngày 14/6/2017 và Tòa án nhân dân Thành phố Nha Trang đã có quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung số 74/2018/HSST-QĐ ngày 28/5/2018 nhưng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Nha Trang vẫn giữ nguyên kết luận truy tố chỉ riêng đối với Trần Trung Tr. Do vậy, theo quy định về giới hạn việc xét xử tại Điều 298 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử chỉ xem xét trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Trần Trung Tr nhưng kiến nghị Cơ quan Cảnh sát Điều tra – Công an thành phố Nha Trang tiếp tục điều tra làm rõ hành vi của Phạm Văn Th và Huỳnh Thanh Qu, khi nào đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên tách ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự khi họ có đơn khởi kiện.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Khoản 2 Điều 104 (dẫn chiếu đến điểm a và điểm i khoản 1 Điều 104); điểm p khoản 1 và khoản 2 Điều 46; Điều 69 và Điều 74 của Bộ luật hình sự 1999;
- Khoản 3 Điều 7, Điểm đ khoản 2 Điều 134 (dẫn chiếu đến điểm a và điểm i khoản 1 Điều 134), Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015;
- Điều 106, Điều 292, Điều 293 và Điều 298 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Xử phạt: Bị cáo Trần Trung Tr 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, tổng hợp hình phạt 08 năm tù của Bản án số 44/2017/HSPT ngày 29/11/2017 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, hình phạt chung bị cáo phải chấp hành là 10 (mười) năm tù, thời hạn phạt tù tính từ ngày chấp hành bản án số 44/2017/HSPT ngày 29/11/2017 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, ngày 24/9/2015.
Về trách nhiệm dân sự: Tách yêu cầu về dân sự của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để giải quyết theo thủ tục tố tụng khi họ có đơn khởi kiện.
Về án phí: bị cáo phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND TP. Nha Trang; - Bị cáo, người tham gia tố tụng; - Công an TP. Nha Trang; - Chi cục THADS Tp. Nha Trang; - TAND tỉnh Khánh Hòa; - Sở tư pháp tỉnh Khánh Hòa; - VKSND Tỉnh Khánh Hòa; - Lưu án văn, hs. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hiếu |