- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tuyên bố hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Ngọc L với ông Trần Văn D và bà Nguyễn Thị P vô hiệu."
- Tòa quyết gì? Tuyên bố hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Ngọc L với ông Trần Văn D và bà Nguyễn Th vô hiệu.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 127 Bộ luật Dân sự; Điều 128 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 207/2018/DS-ST Ngày: 22-11-2018 “V/v Tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOØA AÙN NHAÂN DAÂN HUYEÄN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: B han Th im Hoa
Các Hội thẩm nhân dân:
1/- Ông Bùi Văn Sơn
2/- B Mai Th Thu H
- Thư ký phiên tòa: B hạm Th Cẩm Xuyến l Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: B Lê Th Tố Anh – iểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 145/2018/TLST-DS ngày 23 tháng 8 năm 2018 về “Tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất” theo quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử số 226/2018/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 10 năm 2018 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc L, sinh năm: 1967 (có mặt)
Nơi cư trú: Số N, tổ N, ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang.
B đơn: Ông Trần Văn D, sinh năm: 1970 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Số N, ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang.
Bà Nguyễn Th , sinh năm: 1969 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Tổ N, ấp H, xã Vĩnh L, huyện C, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai cùng ngày 22/8/2018, biên bản lấy lời khai ngày 26/9/2018, biên bản hòa giải ngày 10/9/2018 và tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc L trình bày: Ng y 15/8/2007 giữa ông với ông Trần Văn D và bà Nguyễn Th có thỏa thuận cố đất, vợ chồng ông D, bà P cố cho ông diện tích 3 công tầm cắt, tương đương 3.900m2, tọa lạc tại ấp H, xã V, huyện C, tỉnh An Giang, có thỏa thuận thời hạn cố đất l 2 năm, bắt đầu từ ng y 15/8/2007, với giá l 48 chỉ v ng 24kara (loại 9999). Ông D, bà P đã nhận đủ số v ng nói trên v giao đất cho ông canh tác, ông D, bà P vay vốn v thế chấp to n bộ diện tích đất nói trên tại Ngân h ng Nông Nghiệp v hát Triển Nông Thôn Việt Nam – Agribank Chi nhánh huyện C, tỉnh An Giang. Đến năm 2017, ông được biết l diện tích đất bà P đã cố cho ông b cưỡng chế kê biên để thi h nh án cho Ngân h ng Nông nghiệp v hát triển nông thôn Việt Nam – Agribank Chi nhánh huyện C, ông không có ý kiến về việc kê biên, bán đấu giá t i sản, ông đồng ý giao đất để thi h nh án cho b P, đồng thời đồng ý mua lại phần đất này của b P do Cơ quan Thi h nh án bán t i sản đấu giá. Do bận xạ lúa nên vợ ông l b Nguyễn Th im H có tham gia đấu giá v mua được t i sản bán đấu giá, hiện nay b H đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nh ở v t i sản khác gắn liền với đất số CS02261 ng y 30/8/2018 do Sở T i nguyên v Môi trường cấp cho b H. Nay ông yêu cầu Tòa án giải quyết buộc b Nguyễn Th phải trả lại cho ông 48 chỉ v ng 24 kara (loại 9999).
Ngo i ra, ông xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu ông Trần Văn D cùng trả số nợ trên.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 10/9/2018 và biên bản hòa giải ngày 10/9/2018 bị đơn ông Trần Văn D trình bày: Ông thống nhất với nội dung trình b y của ông Nguyễn Ngọc L, vào ngày 15/8/2007 ông và bà Nguyễn Th có cố cho ông L diện tích 3 công tầm cắt, tương đương 3.900m2, tọa lạc tại ấp H, xã V, huyện C, tỉnh An Giang, có thỏa thuận thời hạn cố đất l 2 năm, bắt đầu từ ng y 15/8/2007, với giá l 48 chỉ v ng 24kara (loại 9999), ông v b P đã nhận đủ số vàng và giao đất cho ông L canh tác. Đến năm 2015 thì ông v b Nguyễn Th đã ly hôn (Theo quyết đ nh công nhận thuận tình ly hôn v sự thỏa thuận của các đương sự số 31/2015/QĐST-HNGĐ ng y 13/02/2015). hi ly hôn giữa ông v bà P đã thỏa thuận với nhau l b P sẽ nhận to n bộ t i sản chung của vợ chồng, đồng thời phải có nghĩa vụ trả to n bộ các số nợ của vợ chồng.
Sau khi ly hôn với b P thì ông bỏ đi l m ăn xa nên việc diện tích đất đã cố cho ông L b phát mãi thi h nh án ông ho n to n không biết v cũng không có ý kiến.
Nay trước yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc L, ông không đồng ý trả nợ cho ông Nguyễn Ngọc L, vì ông đã giao to n bộ t i sản chung của vợ chồng cho b Nguyễn Th .
Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị P: Sau khi thụ lý vụ kiện Tòa án có tống đạt, niêm yết hợp lệ thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ v hòa giải, đăng báo, nhắn tin trên báo Công lý của Tòa án nhân dân Tối cao v o 3 kỳ liên tiếp (số 83, 84, 85 năm 2018) nhưng phía b đơn đều vắng mặt không có lý do, cũng không cung cấp lời khai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C tham gia phiên tòa và phát biểu ý kiến: Tại giai đoạn sơ thẩm những người tiến h nh tố tụng v tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy đ nh của Bộ luật Tố tụng dân sự v tuân thủ đúng quy đ nh pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án. Về nội dung vụ án đề ngh Hội đồng xét xử tuyên bố hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Ngọc L với ông Trần Văn D và bà Nguyễn Th vô hiệu; Buộc bà Nguyễn Th P có nghĩa vụ trả lại cho ông Nguyễn Ngọc L 48 chỉ v ng 24 kara (loại 9999).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các t i liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ v o kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đ nh về vụ án như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ông Trần Văn D l b đơn trong vụ kiện có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ v o khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến h nh xét xử vắng mặt đối với ông Trần Văn D.
Bà Nguyễn Th là b đơn trong vụ kiện đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Theo quy đ nh tại khoản 2 Điều 227 v khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến h nh xét xử vắng mặt đối với bà Nguyễn Th .
Về nội dung vụ án: Ông Nguyễn Ngọc L yêu cầu b Nguyễn Th
phải trả lại cho ông 48 chỉ v ng 24 kara (loại 9999). Xét thấy, tuy bà Nguyễn Th vắng mặt tại các phiên hòa giải v xét xử, song căn cứ v o các chứng cứ nguyên đơn cung cấp tờ nhượng đất ngày 15/8/2007 có nội dung l “….. Nay vợ chồng tôi đồng ý nhượng đất lại cho ông Nguyễn Ngọc L sinh năm 1967 ở ấp M với số đất l 3 công tầm cắt, đất tọa lạt tại ấp H, xã V với số v ng l 48 chỉ v ng BS 9999 viết bằng chữ l bốn mươi tám chỉ v ng bốn số 9999 đưa v ng ngày 15-8 năm 2007 thời hạn l hai năm đến năm 2009 thì tôi trả lại số v ng nói trên, nếu tôi không có trả thì ông L được quyền canh tát tiếp tục …”. Đồng thời, ông Trần Văn D cũng thừa nhận vào ngày 15/8/2007 ông và bà Nguyễn Th có cố cho ông L diện tích 3 công tầm cắt, tương đương 3.900m2, tọa lạc tại ấp H, xã V, huyện C, tỉnh An Giang, có thỏa thuận thời hạn cố đất l 2 năm, bắt đầu từ ng y 15/8/2007, với giá l 48 chỉ v ng 24kara (loại 9999), ông v b P đã nhận đủ số v ng v giao đất cho ông L canh tác. Đến năm 2015 thì ông và bà Nguyễn Th đã ly hôn (Theo quyết đ nh công nhận thuận tình ly hôn v sự thỏa thuận của các đương sự số 31/2015/QĐST-HNGĐ ng y 13/02/2015). hi ly hôn giữa ông v bà P đã thỏa thuận với nhau l b P sẽ nhận to n bộ t i sản chung của vợ chồng, đồng thời phải có nghĩa vụ trả to n bộ các số nợ của vợ chồng. Sau khi ly hôn với b P thì ông bỏ đi l m ăn xa nên việc diện tích đất đã cố cho ông L b phát mãi thi hành án ông ho n to n không biết v cũng không có ý kiến vì ông đã giao to n bộ t i sản chung của vợ chồng cho b Nguyễn Th .
Tại phiên hòa giải v tại phiên tòa hôm nay ông L chỉ yêu cầu b P trả số v ng nêu trên cho ông chứ không yêu cầu ông D cùng trả. Xét thấy, việc thay đổi n y không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu, do đó nghĩ nên chấp nhận l phù hợp.
Xét thấy: Căn cứ v o những quy đ nh của pháp luật về đất đai hai bên xác lập hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất với nhau nhưng không được pháp luật thừa nhận, bởi vì đất đai không thuộc đối tượng của hợp đồng cầm cố, nên giao d ch dân sự giữa hai bên l vô hiệu kể từ khi xác lập. Do đó, nghĩ nên áp dụng Điều 137 Bộ luật dân sự 2005 để xử lý việc giao d ch dân sự vô hiệu, các bên khôi phục tình trạng ban đầu, ho n trả cho nhau những gì đã nhận.
Đối với diện tích đất đã cố theo ông L trình b y khoản 3.900m2 ông đã giao cho Cơ quan thi h nh án để thi h nh án cho b P xong vào ngày 11/12/2017. Căn cứ v o biên bản về việc giải quyết việc thi h nh án ng y 11/12/2017 của Chi cục thi h nh án dân sự huyện C, tỉnh An Giang, hợp đồng mua bán t i sản đấu giá ng y 08/6/2018, quyết đ nh giao t i sản cho người mua được t i sản bán đấu giá ng y 12/6/2018, biên bản về việc giao, nhận t i sản thi h nh án ng y 26/6/2018 của Chi cục thi h nh án dân sự huyện C, tỉnh An Giang thì phía ông L đã giao đất cho Cơ quan thi h nh án để thi h nh án đối với các khoản nợ của bà P; Đối với số vàng 48 chỉ v ng 24 kara (loại 9999) ông D, bà P đã nhận trong hợp đồng cầm cố thì vẫn chưa trả cho ông L. Do đó, trước yêu cầu khởi kiện của ông L l ho n to n có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận v buộc bà P có nghĩa vụ trả lại 48 chỉ v ng 24 kara (loại 9999) cho ông L l phù hợp.
Do đó nghĩ nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bà Nguyễn Th
có nghĩa vụ trả số vàng 48 chỉ v ng 24 kara (loại 9999) cho ông Nguyễn Ngọc L l phù hợp.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ v o Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và Ngh quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án phí v lệ phí Tòa án, bà Nguyễn Th phải ch u án phí dân sự sơ thẩm theo quy đ nh.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ v o các Điều 166, 167 Luật đất đai năm 2013 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015 v các Điều 127, 128, 137 Bộ luật Dân sự năm 2005; các Điều 26, 35, 144, 145, 146, 147, 227, 228, 244 và 273 cuûa Boä luaät tố tụng daân söï; Ngh quyết 326/2016/UBTVQH14 ng y 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án phí v lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Tuyên bố hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Ngọc L với ông Trần Văn D và bà Nguyễn Th vô hiệu.
Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Ngọc L. Buộc bà Nguyễn Th có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Ngọc L số v ng 48 (bốn mươi tám) chỉ vàng 24 kara (loại 9999).
2. Về án phí: Bà Nguyễn Th phải ch u 8.160.000đ (tám triệu một trăm sáu mươi ng n đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Nguyễn Ngọc L được ho n lại số tiền 4.210.000đ (bốn triệu hai trăm mười ng n đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0008532 ngày 23/8/2018 của Chi cục Thi h nh án dân sự huyện C, tỉnh An Giang.
3. Về quyền kháng cáo: Ông Nguyễn Ngọc L có quyền l m đơn kháng cáo trong thời hạn hạn 15 ng y kể từ ng y tuyên án (22/11/2018). Ông Trần Văn D, Bà Nguyễn Th có quyền l m đơn kháng cáo trong hạn 15 ng y kể từ ng y nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết đ nh được thi h nh theo quy đ nh tại điều 2 luật thi h nh án dân sự thì người được thi h nh án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi h nh án, quyền yêu cầu thi h nh án, tự nguyện thi h nh án hoặc b cưỡng chế thi h nh án theo quy đ nh tại các điều 6, 7 v 9 luật thi h nh án dân sự; thời hiệu thi h nh án dân sự được thực hiện theo quy đ nh tại điều 30 luật thi h nh án dân sự.
| Nơi nhận: - Những người tham gia tố tụng (để thi h nh); - V SND huyện Châu Th nh; - hòng TNV v THA – TAND tỉnh An Giang; - THA.DS huyện; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phan Thị Kim Hoa |