- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự sơ thẩm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Xử phạt: Nguyễn Duy L 15 ( Mười Lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo 08/4/2023; Quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN Bản án số: 206/2023/HSST Ngày: 25/7/2023 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Hải
Các Hội thẩm nhân dân: 1.Ông Phạm Lành
2. Ông Đồng Văn Quân
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Vũ Thùy Dương,Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Phùng Thị Kim Oanh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 194/2023/HSST ngày 04/7/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 195/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Duy L, tên gọi khác: không; sinh ngày 18 tháng 4 năm 1978; Nơi ĐKHKTT: Xóm G, xã C, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp:Làm ruộng; trình độ học vấn:06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam;Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông:Nguyễn Viết Luân (đã chết) và con bà Bùi Thị M; Vợ: Hoàng Thị T; có 01con; Tiền án - Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/4/2023 đến nay, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt).
* Người chứng kiến: Anh Nguyễn Hữu N sinh năm 1976, trú tại: Tổ 05, phường C, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt).
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Hoàng Thị T, sinh năm 1979, trú tại: Xóm G, xã C, TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.( Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 10 giờ 00 phút ngày 08/4/2023, tổ công tác của Công an phường Chùa Hang phối hợp cùng Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Thái Nguyên tiến hành tuần tra kiểm soát trên địa bàn thì phát hiện tại xã Phúc Lợi, xã Cao Ngạn, thành phố Thái Nguyên có một người đàn ông điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 20M7 - 9840 có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra, người đàn ông khai tên là Nguyễn Duy L. Quá trình kiểm tra, L tự giác lấy từ lòng bàn tay trái ra 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng giao nộp cho tổ công tác. L khai nhận đó là ma túy Heroine vừa mua để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với L, thu giữ và niêm phong vật chứng theo quy định. Ngoài ra, tổ công tác còn tạm giữ của L 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 20M7 – 9840, xe đã qua sử dụng.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên tiến hành cân xác định toàn bộ số chất bột màu trắng thu giữ của L có khối lượng là 0,101 gam, lấy toàn bộ số chất bột màu trắng đưa vào phong bì niêm phong ký hiệu C1 gửi đi giám định.
Tại Bản kết luận giám định số 592/KL-KTHS ngày 17/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu C1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng thu giữ ban đầu là 0,101 gam.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Duy L khai nhận: Khoảng 9 giờ 30 phút ngày 08/4/2023, L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 20M7 – 9840 đi từ nhà đến khu vực cầu Gia Bẩy thuộc phường Đồng Bẩm, thành phố Thái Nguyên, để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Đến nơi, L gặp và mua được của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy Heroine được gói bên ngoài bằng giấy bạc màu trắng với số tiền 100.000 đồng. Mua xong, L cầm gói ma túy trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe mô tô đi tìm nơi sử dụng. Khi đi đến khu vực thuộc xóm Phúc Lợi, xã Cao Ngạn, thành phố Thái Nguyên thì bị tổ công tác của công an phường Chùa Hang phối hợp cùng Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang như nêu trên.
Lời khai nhận tội của Nguyễn Duy L phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ, kết luận giám định cùng tài liệu khác có trong hồ sơ.
Vật chứng: 02 bì niêm phong ký hiệu C1, C2; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Taurus màu đen, biển kiểm soát 20M7 – 9840, số máy 16S2112001, số khung RLCS16S209Y111993, xe đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định, đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Văn Đồng (sinh năm 1965, HKTT: Tổ 2, phường Quang Vinh, thành phố Thái Nguyên, Thái Nguyên). Năm 2012 ông Đồng đã bán chiếc xe trên cho một người không quen biết. Năm 2022, chị Hoàng Thị Tốt, sinh năm 1979, HKTT: Xóm Gò Chè, xã Cao Ngạn, thành phố Thái, tỉnh Thái Nguyên (là vợ của Nguyễn Duy L) đã mua chiếc xe trên của một người không quen biết với giá 3.500.000 đồng. Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.
Tại bản cáo trạng số 198/CT-VKSTPTN ngày 03/7/2023 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã quyết định truy tố Nguyễn Duy L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như lời khai tại cơ quan điều tra và bản cáo trạng mô tả. Bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật.
Kết thúc phần thẩm vấn, tại phần tranh luận,vị Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên giữ quyền công tố đã trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy L phạm tội“ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy L: Từ 15 đến 18 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo; Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:Tịch thu, tiêu hủy: 01 bì niêm phong đúng quy định ký hiệu: C1; 01 bì niêm phong đúng quy định ký hiệu: C2.
Trả lại cho Chị Hoàng Thị Tốt, sinh năm 1979, trú tại: Xóm Gò Chè, xã Cao Ngạn, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên quản lý sử dụng: 01 xe mô tô đã qua sử dụng gắn biển kiểm soát: 20M7-9840; Loại xe: Hai bánh từ 50-175cm3; Nhãn hiệu : YAMAHA, số loại: TAURUS, màu sơn: Đen, dung tích xi lanh: 113, số máy: 16S2112001, số khung: RLCS16S209Y111993.
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận việc truy tố xét xử là không oan, đúng người, đúng tội.Lời nói sau cùng của bị cáo hứa sửa chữa và xin được hưởng mức án nhẹ nhất, để sớm trở về là người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên và kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Duy L và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó,các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
.Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Duy L thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện.Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà là khách quan phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan với vật chứng đã thu được, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các chứng cứ tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án.Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ xác định: Hồi 10 giờ 00 phút ngày 08/4/2023, tại khu vực xóm Phúc Lợi, xã Cao Ngạn, thành phố Thái Nguyên, Nguyễn Duy L có hành vi tàng trữ 0,101 gam chất ma túy, loại Heroine để sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác của Công an phường Chùa Hang phối hợp cùng Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng.
Hành vi, ý thức của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” tội phạm vàhìnhphạtquy địnhtạiđiểm ckhoản1Điều249Bộluật hình sự.
. Bản cáo trạng số 198/CT-VKSTPTN ngày 03/7/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Nguyễn Duy L về tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
Nội dung điều 249 quy định như sau:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…
c, Heroine... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; ”
Về tính chất, mức độ hành vi: Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng,hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc dược của Nhà nước gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy đối với sức khỏe, kinh tế xã hội nhưng do không làm chủ được bản thân nên đã dẫn đến phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xét xử bằng pháp luật hình sự và có một mức án phù hợp, buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để giáo dục bị cáo, đồng thời răn đe phòng chống tội phạm chung.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo không có tiền án, tiền sự trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ Luật hình sự.
Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ tội phạm do bị cáo thực hiện, sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo Nguyễn Duy L trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, cần xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo yên tâm cải tạo tốt sớm trở về với gia đình và xã hội, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật. Mức hình phạt mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị trong phần luận tội là phù hợp.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng, lời khai của bị cáo tại phiên tòa xác định bị cáo không có tài sản, thu nhập, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về việc xử lý hành vi và các đối tượng có liên quan: Nguồn gốc số ma tuý thu giữ, L khai mua của người đàn ông không rõ lai lịch, địa chỉ ở khu vực cầu Gia Bẩy thuộc phường Đồng Bẩm, thành phố Thái Nguyên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên không có cơ sở điều tra làm rõ để xử lý.
Đối với chị Hoàng Thị Tốt là chủ sở hữu của chiếc xe mô tô biển kiểm soát 20M7 - 9840. Quá trình điều tra xác định chị Tốt không biết L sử dụng xe để đi mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên không xem xét xử lý.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy: 01 bì niêm phong đúng quy định ký hiệu: C1 và 01 bì niêm phong đúng quy định ký hiệu: C2
Đối với: 01 xe mô tô đã qua sử dụng gắn biển kiểm soát: 20M7-9840; Loại xe: Hai bánh từ 50-175cm3; Nhãn hiệu : YAMAHA, số loại: TAURUS, màu sơn: Đen, dung tích xi lanh: 113, số máy: 16S2112001, số khung: RLCS16S209Y111993, bị cáo xác định là xe của vợ bị cáo tự mua, bị cáo lấy xe đi bị cáo không nói cho vợ bị cáo biết bị cáo đi đâu làm gì, chị Tốt cũng xác định chiếc xe trên là của chị, chồng chị là bị cáo L nghiện ma túy nên không có đóng góp gì cho chị,chị không biết chồng chị sử dụng chiếc xe trên để đi mua ma tuý, chị đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho chị chiếc xe trên để chị làm phương tiện đi lại làm ăn, chiếc xe trên là tài sản duy nhất của gia đình chị, do đó cần trả lại cho Chị Hoàng Thị Tốt, sinh năm 1979, trú tại: Xóm Gò Chè, xã Cao Ngạn, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên: 01 xe mô tô đã qua sử dụng gắn biển kiểm soát: 20M7-9840; Loại xe: Hai bánh từ 50-175cm3; Nhãn hiệu : YAMAHA, số loại: TAURUS, màu sơn: Đen, dung tích xi lanh: 113, số máy: 16S2112001, số khung: RLCS16S209Y111993.
.Án phí và quyền kháng cáo:Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước; Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Điểm c Khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.
1/ Xử phạt: Nguyễn Duy L 15 ( Mười Lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo 08/4/2023; Quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
2/ Vềhìnhphạtbổsung: Khôngápdụnghìnhphạtbổsunglà phạttiền đốivớibịcáo.
3/ Về vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy: 01 bì niêm phong đúng quy định ký hiệu: C1 ( bên trong có chứa 0,095 gam mẫu vật còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu gửi giám định), mặt sau có các dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự
- Công an tỉnh Thái Nguyên và chữ ký của Trần Đức Thủy; 01 bì niêm phong đúng quy định ký hiệu: C2 (bên trong có chứa vỏ bao mẫu vật niêm phong ban đầu), mặt sau có các dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT- Công an TP Thái Nguyên và chữ ký của các thành phần tham gia.
Trả lại cho Chị Hoàng Thị Tốt, sinh năm 1979, trú tại: Xóm Gò Chè, xã Cao Ngạn, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên quản lý, sử dụng: 01 xe mô tô đã qua sử dụng gắn biển kiểm soát: 20M7-9840; Loại xe: Hai bánh từ 50-175cm3; Nhãn hiệu : YAMAHA, số loại: TAURUS, màu sơn: Đen, dung tích xi lanh: 113, số máy: 16S2112001, số khung: RLCS16S209Y111993.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 380 ngày 21/7/2023 giữa Công an thành phố Thái Nguyên với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên).
4/Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326 của UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Duy L phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.
5/ Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND TP. Thái Nguyên; - Công an TP. Thái Nguyên; - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - Chi cục THADS TP.Thái Nguyên; - THA phạt tù; - Người tham gia tố tụng; - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên; - UBND xã Cao Ngạn, TP.Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên; - L:Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Minh Hải |