- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tráng Láo Nhìa - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Tráng Láo N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 206/2023/HS-ST Ngày 24-8-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Như Khánh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Đình Bản và bà Nguyễn Thị Tiện.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Linh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham
gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Nghĩa, Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 202/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 207/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
Tráng Láo N, sinh năm 1970 tại huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản A Lá, xã Lóng Sập, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): Không biết chữ; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Tráng Sái Páo và bà Cứ Thị Sua (đều đã chết); bị cáo có vợ là Sồng Thị Cợ và có 05 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/5/2023 đến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 13 giờ ngày 25/5/2023, tổ công tác Công an xã Lóng Sập làm nhiệm vụ tại bản A Lá, xã Lóng Sập, huyện Mộc Châu tiến hành kiểm tra đối với Tráng Láo N đang đi bộ trên đường. Qua kiểm tra phát hiện N đang cất giấu trong người 01 túi nilon màu xanh bên trong đựng 87 viên nén màu hồng nghi là ma túy, loại Methamphetamine. Tráng Láo N khai nhận đó là ma túy của N cất giấu để sử dụng cho bản thân. Căn cứ hành vi vi phạm của Tráng Láo N, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng và dẫn giải Tráng Láo N bàn giao cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu để điều tra, làm rõ.
Ngày 25/5/2023, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu tiến hành xác định khối lượng 87 viên nén màu hồng thu giữ của Tráng Láo N được 8,16 gam, lấy 05 viên có khối lượng 0,46 gam làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu N.
Tại Kết luận giám định số 1104 ngày 29/5/2023 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu N là ma túy; loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,46 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 8,16 gam, loại Methamphetamine”.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Tráng Láo N khai nhận: Bản thân nghiện chất ma tuý. Ngày 25/5/2023, N đi bộ từ nhà đến khu vực biên giới Việt Nam - Lào thuộc bản A Lá, xã Lóng Sập, huyện Mộc Châu mục đích tìm mua ma túy mang về sử dụng, đến nơi N gặp và hỏi mua được của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết 87 viên hồng phiến với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý, N cầm gói ma túy rồi đi bộ về nhà, khi về đến đường dân sinh thuộc bản A Lá, xã Lóng Sập gặp tổ công tác Công an xã Lóng Sập kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.
Đối với người đàn ông dân tộc Mông đã bán ma túy cho Tráng Láo N như N đã khai nhận, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu không có căn cứ để điều tra, làm rõ và xử lý.
Cáo trạng số 158/CT-VKS ngày 28/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu truy tố bị can Tráng Láo N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Tráng Láo N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:
1. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Tráng Láo N từ 05 (năm) 06 ( sáu) tháng đến 06 (Sáu) năm tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 25/5/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong mặt trước ghi: “Vật chứng vụ Tráng Láo N, bắt ngày 25/5/2023 (vỏ gói niêm phong ban đầu và túi nilon màu xanh đựng 82 viên nén màu hồng)”; 01 phong bì niêm phong mặt trước ghi: “Test thử ma túy đối với Tráng Láo N, ngày 25/5/2023”.
3. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Sau khi Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý các vấn đề của vụ án. Bị cáo nhất trí với cáo trạng và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Mộc Châu, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Tráng Láo N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan Điều tra, số ma túy bị tổ công tác Công an xã Lóng Sập, huyện Mộc Châu thu giữ của bị cáo vào ngày 25/5/2023 có nguồn gốc mua được của một người đàn ông dân tộc Mông, không quen biết với giá 500.000 đồng, 87 viên hồng phiến, mục đích sử dụng cho bản thân. Lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi đã thực hiện.
Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do tổ công tác Công an xã Lóng Sập lập vào hồi 13 giờ 15 phút ngày 25/5/2023; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong, xác định số lượng, khối lượng, lấy mẫu giám định, niêm phong lại vật chứng đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; bản kết luận giám định số 1104 ngày 29/5/2023 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu N là ma túy; loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,46 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 8,16 gam, loại Methamphetamine”. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác của cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Từ những chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Tráng Láo N là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của việc tàng trữ, sử dụng ma túy nhưng do nghiện chất ma túy nên ngày 25/5/2023 bị cáo đã có hành vi tàng trữ, cất giấu trái phép 8,16 gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, nhận thức rõ việc cất giữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do vậy, cần quyết định hình phạt nghiêm khắc và phù hợp nhằm răn đe, giáo dục bị cáo, phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, gia đình không có tài sản gì có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
Về vật chứng, xử lý vật chứng:
Đối với 01 phong bì niêm phong mặt trước ghi: “Vật chứng vụ Tráng Láo N, bắt ngày 25/5/2023 (vỏ gói niêm phong ban đầu và túi nilon màu xanh đựng 82 viên nén màu hồng)”; 01 phong bì niêm phong mặt trước ghi: “Test thử ma túy đối với Tráng Láo N, ngày 25/5/2023”. Xét thấy đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành, vật không có giá trị sử dụng do đó cần tịch thu tiêu hủy.
Về các vấn đề khác:
Đối với người đàn ông dân tộc Mông đã bán ma túy cho Tráng Láo N. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không đề cập đến vấn đề xử lý.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Thời hạn tạm giam của bị cáo còn dưới 45 ngày do đó Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam đối với bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Tráng Láo N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Tráng Láo N 06 (Sáu) năm tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 25/5/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong mặt trước ghi: “Vật chứng vụ Tráng Láo N, bắt ngày 25/5/2023 (vỏ gói niêm phong ban đầu và túi nilon màu xanh đựng 82 viên nén màu hồng)”; 01 phong bì niêm phong mặt trước ghi: “Test thử ma túy đối với Tráng Láo N, ngày 25/5/2023”.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Tráng Láo N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn).
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh Sơn La; - Viện KSND huyện Mộc Châu; - Công an huyện Mộc Châu; - Chi cục THADS huyện Mộc Châu; - Trại giam; - THA HS; - Bị cáo; - Sở tư pháp tỉnh Sơn La (khi án có hiệu lực); - Lưu hồ sơ. Đỗ Đình Bản Nguyễn Thị Tiện | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( Đã ký) Đỗ Như Khánh THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Như Khánh |