vanban.org

Bản án 206/2022/HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Tuyên xử cho chị Lê Thị Thanh T được ly hôn với anh Nguyễn Hồng P.

Về con chung: Giao cho chị Lê Thị Thanh T chịu trách nhiệm tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Lê Thanh T1 (sinh ngày 19/11/2020) cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi. Chị Lê Thị Thanh T không có yêu cầu anh Nguyễn Hồng P cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn theo yêu cầu 1 bên"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Tuyên xử cho chị Lê Thị Thanh T được ly hôn với anh Nguyễn Hồng P.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ
TỈNH QUẢNG NAM
--------
Bản án số: 206 /2022/HNGĐ-ST
Ngày 28/9/2022
V/v Tranh chấp: Ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ái Linh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Mừng

2. Bà Bùi Thị Hoanh

Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Kim Oanh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đ.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên toà: bà Hoàng Thị Trúc Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 154/2022/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2022 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24a/2022/QĐXX-ST ngày 26 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Lê Thị Thanh T, địa chỉ: thôn T, xã H, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; có đơn xin vắng mặt

- Bị đơn: anh Nguyễn Hồng P, địa chỉ: thôn L, xã H, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

- Người làm chứng:

1. Bà Nguyễn Thị B, địa chỉ: thôn L, xã H, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam, vắng mặt

2. Ông Lê Minh C, địa chỉ: thôn T, xã H, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 31 tháng 5 năm 2022 và tại phiên Toà hôm nay nguyên đơn chị Lê Thị Thanh T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Năm 2020, chị Lê Thị Thanh T và anh Nguyễn Hồng P tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại nhà cha mẹ chị T được một thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn do anh P chơi bời, không lo làm ăn, thiếu trách nhiệm với vợ con. Đầu năm 2022, mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng, anh P bỏ về nhà cha mẹ ruột sống, chị T gửi con cho cha mẹ ruột chăm sóc rồi vào thành phố Hồ Chí Minh làm công nhân để gửi tiền về nuôi con, vợ chồng sống ly thân, bỏ mặc không quan tâm đến nhau.

Nay chị T xét thấy hạnh phúc vợ chồng đã thực sự tan vỡ, mâu thuẫn đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Hồng P để chị được tự do định đoạt cuộc sống riêng của mình.

Về con chung: vợ chồng có 01 cháu là Nguyễn Lê Thanh T1, sinh ngày 19/11/2020, hiện do chị T chịu trách nhiệm nuôi dưỡng. Nay ly hôn chị T có nguyện vọng được nuôi dưỡng, giáo dục cháu T cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Chị T không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung chị T khai vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa can thiệp.

Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, bị đơn Nguyễn Hồng P đã được tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và thông báo kết quả phiên họp, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng cố tình trốn tránh không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, không nêu yêu cầu và ý kiến, không tham gia giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ phát biểu quan điểm:

Về việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định pháp luật.

Đối với nguyên đơn Lê Thị Thanh T thực hiện việc khởi kiện, cung cấp chứng cứ và thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của mình. Riêng đối với bị đơn Nguyễn Hồng P dù đã được Tòa án tống đạt giấy triệu tập và các văn bản tố tụng khác hợp lệ nhưng nhiều lần có biểu hiện lẩn tránh, không hợp tác, không chấp hành giấy triệu tập của Tòa án, vắng mặt tại phiên tòa hai lần không có lý do chính đáng là không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật.

Về nội dung vụ án: xét thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng chị T và anh P đã thật sự trầm trọng, tình yêu không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị chấp nhận yêu cầu của chị T được ly hôn với anh P. Về con chung đề nghị giao cháu Nguyễn Lê Thanh T1 (sinh ngày 19/11/2020) cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên không đề cập. Về tài sản chung và nợ chung chị T khai không có và không yêu cầu Tòa can thiệp, anh P vắng mặt không nêu ra ý kiến và yêu cầu nên đề nghị không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu hiện có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: chị Lê Thị Thanh T khởi kiện ly hôn đối với anh Nguyễn Hồng P có hộ khẩu thường trú tại thôn L, xã H, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam. Đây là vụ án tranh chấp “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về sự vắng mặt của bị đơn: Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Nguyễn Hồng P đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án và triệu tập hợp lệ tham gia giải quyết vụ án nhưng nhưng cố tình trốn tránh, không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, không tham gia giải quyết vụ án. Tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn Nguyễn Hồng P vắng mặt lần thứ hai không có lý do chính đáng nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự và đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các bên đương sự.

Về nội dung:

Xét quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Thị Thanh T và anh Nguyễn Hồng P thì thấy anh chị đã xác lập quan hệ vợ chồng trên cơ sở tình yêu tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các bên khi giải quyết vụ án.

Xét thực trạng quan hệ hôn nhân của anh P, chị T thì thấy: Theo chị T trình bày, trong quá trình chung sống, giữa vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do anh P không lo làm ăn, thiếu trách nhiệm với vợ con, từ đó vợ chồng sống ly thân. Tại hồ sơ vụ án và tại phiên tòa chị T cương quyết xin ly hôn.

Qua kết quả xác minh người làm chứng cho thấy anh P và chị T có xác lập quan hệ vợ chồng hợp pháp và có 01 con chung, nhưng vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân từ đầu năm 2022 đến nay, bỏ mặc không quan tâm chăm sóc nhau.

Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng mâu thuẫn vợ chồng anh P, chị T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng đã có thời gian sống ly thân, không quan tâm chăm sóc nhau nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T, xử cho chị T được ly hôn với anh P là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về quan hệ con chung: Xét lời khai của chị T về quan hệ con chung phù hợp với các chứng cứ, tài liệu về hộ tịch và kết quả xác minh, thể hiện anh P và chị T có 01 con chung là Nguyễn Lê Thanh T1, sinh ngày 19/11/2020. Hiện nay anh P không có mặt tại địa phương, con chung do chị T chịu trách nhiệm nuôi dưỡng, giáo dục ổn định. Vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T, giao cháu T cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi là phù hợp với thực tế và không trái pháp luật.

Tại hồ sơ vụ án và tại phiên tòa chị T không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án chị T khai không có yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung. Anh P vắng mặt không nêu ra ý kiến và yêu cầu của mình. Do vậy, Hội đồng xét xử tách yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung vợ chồng để giải quyết bằng một vụ án khác khi các bên có yêu cầu khởi kiện theo thủ tục chung.

Về án phí: Hội đồng xét xử xét thấy cần buộc chị T phải chịu án phí kiện xin ly hôn 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 147, 227, 228, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự

Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình.

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên xử cho chị Lê Thị Thanh T được ly hôn với anh Nguyễn Hồng P.

2. Về con chung: Giao cho chị Lê Thị Thanh T chịu trách nhiệm tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Lê Thanh T1 (sinh ngày 19/11/2020) cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi.

Chị Lê Thị Thanh T không có yêu cầu anh Nguyễn Hồng P cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Nguyễn Hồng P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai có quyền cản trở. Khi có lý do chính đáng các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về án phí: Án phí kiện xin ly hôn số tiền 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng chị Lê Thị Thanh T phải chịu, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng chị T đã nộp theo biên lai thu số 0003802 ngày 08/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Đ.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử phúc thẩm.

Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

(Đã giải thích luật thi hành án dân sự).

Cỡ chữ