- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn M - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 206/2021/HS-ST Ngày 18-11-2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Thắm;
Ông Lương Thanh Nhàn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Phương - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 216/2021/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 202/2021/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn M, sinh năm 1997 tại tỉnh Hậu Giang; hộ khẩu thường trú: Ấp PS, xã TL, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang; Chỗ ở: Nhà trọ PH, đường N, khu phố X, phường TH, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H sinh năm 1947 (đã chết) và bà Lê Thị C sinh năm 1951; bị cáo có 05 chị em, lớn nhất sinh năm 1985, nhỏ nhất là bị cáo; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Bến Cát từ ngày 10/7/2021 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn M là đối tượng nghiện ma túy đá từ năm 2020. Vào khoảng 22 giờ 40 ngày 09/7/2021, M đi từ phòng trọ tại khu phố X, phường CPH, thị xã Bến Cát đến phòng trọ của Hồ Văn N tại khu vực chợ Dòng Sỏi, ấp Lồ Ồ, xã An Tây, thị xã Bến Cát rủ N đi chơi. Sau đó, M điều khiển xe môtô hiệu Vario biển số 67 M1- 804.58 của N chở N đến phòng trọ của cha M tại khu phố X, phường CPH, thị xã Bến Cát chơi. Tại đây, M hỏi mượn xe môtô của N để đi công việc thì N đồng ý. Sau đó M điện thoại cho Cu (không rõ lai lịch) hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá rồi điều khiển xe mô tô biển số 67 M1- 804.58 đến khu vực cầu Thới An, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương gặp Cu mua 01 túi ni lông miệng kéo dính chứa ma túy đá. Trên đường về, M dừng lại ở vườn cây ven đường lấy một phần ma túy vừa mua được ra sử dụng, phần còn lại M dùng băng keo dán dính vào chìa khóa xe mô tô. Sau đó, M điều khiển xe đến phòng trọ của ông H (cha của M) để chở N về. Khoảng 03 giờ ngày 10/7/2021, khi M đang điều khiển xe môtô biển số 67 M1- 804.58 chở N đến chốt kiểm dịch Covid - 19 trên đường NA3-DA3 thuộc khu phố 3, phường Mỹ Phước, thị xã Bến Cát thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ gồm:
- 01 túi ni lông miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng;
- 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, bên trong không có sim;
- 01 xe môtô nhãn hiệu honda Vario biển số 67M1-804.58
Theo Kết luận giám định số 448/MT-PC09 ngày 13/7/2021 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận: Chất tinh thể màu trắng chứa trong 01 túi ni lông miệng kéo dính thu giữ của Nguyễn Văn M là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0,9817 gam. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II, số thứ tự 323 được quy định tại Nghị định số 73/2018/NĐ- CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
Đối với xe môtô nhãn hiệu honda Vario biển số 67M1-804.58 là của chị Ngô Y (bạn gái của N) đứng tên đăng ký. Ngày 10/7/2021, N mượn xe của chị Y đi chơi cùng với M. Việc M sử dụng xe để đi mua ma túy thì N và Y không biết. Ngày 03/10/2021, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát xử lý vật chứng trả xe lại cho chị Y.
Cáo trạng số 211/CT-VKS-BC ngày 29/10/2021 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Văn M về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phần tranh luận:
+ Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát theo Cáo trạng số 211/CT-VKS ngày 29/10/2021 đối với bị cáo Nguyễn Văn M về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo M từ 01 năm đến 01năm 06 tháng tù.
+ Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy đối với m u vật còn lại sau giám định là 0,9561 gam ma túy, loại Methamphetamine. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, bên trong không có sim.
+ Bị cáo thống nhất với luận tội của Đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không có ý kiến tranh luận, đối đáp với Kiểm sát viên và không bào chữa gì thêm.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật hình sự nên xin Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn M tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, do đó có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 10/7/2021, bị cáo Nguyễn Văn M có hành vi tàng trữ trái phép 0,9817gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo với tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, phù hợp hoàn toàn với hành vi thực tế mà bị cáo đã gây ra.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây tác hại xấu đến trật tự công cộng và an toàn xã hội. Việc tàng trữ ma túy của bị cáo là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội, loại ma túy mà bị cáo mua là loại độc chất gây nghiện, làm tổn hại cho sức khỏe con người. Về nhận thức bị cáo biết hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là trái pháp luật nhưng vì thỏa mãn cơn nghiện của bản thân nên bị cáo v n cố ý thực hiện, bất chấp hậu quả. Do đó, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp và hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về hình phạt: Bị cáo M có một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, cải tạo, giáo dục và tạo điều kiện cho bị cáo được cai nghiện ma túy, đồng thời phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
Về xử lý vật chứng:
- 0,9561 gam ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, bên trong không có sim là phương tiện liên lạc để bị cáo phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Hồ Văn N không biết bị cáo M đi mua ma túy và không biết bị cáo M cất giấu ma túy nên không có căn cứ xử lý là đúng luật định. Đối với đối tượng tên Cu là người bán ma túy cho M, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên sẽ tiếp tục điều tra xác minh, xử lý sau là đúng quy định pháp luật.
Lời đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát về việc áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/7/2021.
2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Tịch thu tiêu hủy: Một bì thư được niêm phong ghi số 448/PC09, bên trên có in hình dấu đỏ niêm phong của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, bên trong chức 0,9561 gam ma túy, loại Methamphetamine.
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, bên trong không có sim.
(Vật chứng đã được giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bến Cát theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08/11/2021).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Văn M phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án./. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nguyễn Thị Thắm Lƣơng Thanh Nhàn | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thanh Nga |