- Tranh chấp gì? án hình sự — "Quàng Thị H - Tòng Thị X - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự Tuyên bố các bị cáo Quàng Thị H và Tòng Thị X phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 206/2021/HS-ST Ngày: 21/7/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Tuyến
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Vũ Văn Tám
2. Bà Nguyễn Thị Phương
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lý - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 7 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 209/2021/TLST-HS ngày 23 tháng 6 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 213/2021/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 7 năm 2021, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Quàng Thị H, Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1977, tại Điện Biên; Nơi cư trú: Bản N, xã S, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hoá (học vấn): Không; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Quàng Văn K (đã chết) và con bà: Quàng Thị P; Từ năm 1993 đến năm 2006, bị cáo chung sống như vợ chồng với Lò Văn S tại Bản N, xã Th, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Con: Có 01 con sinh năm 1994; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Có 01 tiền án nhưng đã được xóa án tích (Bản án số: 48/2003/HSST ngày 08/01/2003 bị Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu và Bản số: 900/2003/HSPT ngày 18/6/2003 của Tòa phúc thẩm tại Hà Nội Tòa án nhân dân Tối Cao xử phạt 07 năm tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy). Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 16/4/2021, sau đó bị tạm giam cho đến nay - Có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Tòng Thị X, Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1989, tại Điện Biên; Nơi cư trú: Bản N, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hoá (học vấn): 5/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Tòng Văn L và con bà: Tòng Thị Nh; Từ năm 2002 đến năm 2009, bị cáo chung sống như vợ chồng với Tòng Văn X tại Bản N, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 16/4/2021, sau đó bị tạm giam cho đến nay - Có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo Tòng Thị X: Bà Hà Thị Th - Sinh năm: 1986; Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 16/4/2021, Tòng Thị X đang ở nhà tại bản N, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên thì có Quàng Thị H (trú tại bản N, xã S, huyện Đ, tỉnh Điện Biên) đến hỏi X về việc có biết chỗ nào bán ma túy để mua. Do thiếu ý thức chấp hành pháp luật và cũng để thỏa mãn nhu cầu sử dụng chất ma túy của bản thân nên X và H đã rủ nhau cùng đi vào xã N, huyện Đ tìm mua ma túy vể để sử dụng chung. X nhận lấy 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng) H đưa rồi điều khiển xe máy nhãn hiệu HONDA BLADE màu đen trắng biển kiểm soát 27B1-243.96 chở H phía sau đi đến bản C, xã N, huyện Đ. Khi đến nơi, X và H gặp 01 người đàn ông dân tộc Mông khoảng 40 tuổi (không biết tên và địa chỉ). Qua trao đổi, X đã đưa số tiền 400.000đ để nhờ người này đi mua Heroine. Người đàn ông đó cầm tiền đi đâu X và H không biết. Khoảng 01 tiếng sau người đó quay lại và đưa cho X 01 gói nilon màu hồng, miệng buộc lại bên trong là Heroine. X cầm gói ma túy vừa mua được đưa cho H xem rồi cầm lại ở tay trái chở H đi về. Hồi 17 giờ cùng ngày, khi X chở H đến khu vực bản N, xã N, huyện Đ thì bị tổ công tác Đồn Biên phòng Cửa khẩu quốc tế Tây Trang phối hợp với Phòng Phòng chống ma túy và tội phạm, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Điện Biên đang làm nhiệm vụ yêu cầu dừng xe lại để kiểm tra, phát hiện, thu giữ tại tay trái của X 01 gói Heroine có khối lượng 1,05 gam.
Tại Bản kết luận giám định số: 441/GĐ-PC09 ngày 25/4/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Quàng Thị H và Tòng Thị X gửi giám định là ma túy loại Heroine, khối lượng vật chứng thu giữ của H, X gồm: 1,05 gam chất bột màu trắng (đã trích 0,04 gam gửi giám định không hoàn lại). Heroine nằm trong danh mục chất ma túy, STT 9, Mục IA, Danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định trên của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên.
Về vật chứng của vụ án: Ngày 22/6/2021 cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Điện Biên đã chuyển vật chứng của vụ án sang cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Điện Biên gồm: 1,01 gam Heroine còn lại sau khi giám định; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA BLADE màu đen trắng biển kiểm soát 27B1-243.96.
Bản cáo trạng số: 157/CT-VKSĐB ngày 22/6/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố các bị cáo Quàng Thị H và Tòng Thị X về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự;
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
* Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Quàng Thị H với mức hình phạt từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
* Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Tòng Thị X với mức hình phạt từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 1,05 gam Heroine (đã trích 0,04 gam gửi giám định không hoàn lại). Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA BLADE màu đen trắng biển kiểm soát 27B1-243.96 của bị cáo Tòng Thị X đã dùng làm phương tiện phạm tội.
* Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Tòng Thị X.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Quàng Thị H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Tại luận cứ bào chữa cho bị cáo Tòng Thị X ngày 21/7/2021 bà Hà Thị Thuận đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xem xét về nhân thân, hoàn cảnh gia đình để xem xét mức hình phạt phù hợp đối với X. Mức hình phạt chính người bào chữa đề nghị là 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo X và Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng và bản luận tội của Kiểm sát viên; Bị cáo X không bổ sung lời bào chữa;
Thực hiện lời nói sau cùng các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hồi 17 giờ 16/4/2021 tại khu vực bản N, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, Quàng Thị H và Tòng Thị X đã có hành vi cất giấu trái phép trên người 1,05 gam Heroine với mục đích để sử dụng. H, X khai nguồn gốc số Heroine này là do các bị cáo mua của 01 người đàn ông dân tộc Mông khoảng 40 tuổi (không biết tên và địa chỉ) tại bản C, xã N, huyện Đ với số tiền 400.000 đồng.
Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra tiến hành thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.
Hành vi trên của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, bản luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Từ những phân tích trên, khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố các bị cáo Quàng Thị H và Tòng Thị X về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.
[2] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng của các bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, bởi nó đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy. Vì vậy, việc truy tố, xét xử và áp dụng mức hình phạt thỏa đáng đối với các bị cáo là cần thiết, có như vậy mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.
[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với các bị cáo: Trong vụ án này các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng, không có tiền án, tiền sự nhưng bị cáo Quàng Thị H có nhân thân xấu bởi trước đó bị cáo đã từng có 01 tiền án nhưng đã được xóa án tích (Bản án số: 48/2003/HSST ngày 08/01/2003 bị Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu và Bản số: 900/2003/HSPT ngày 18/6/2003 của Tòa phúc thẩm tại Hà Nội Tòa án nhân dân Tối Cao xử phạt 07 năm tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy). Nguyên nhân dẫn đến phạm tội là do các bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật, nghiện ma túy từ nhiều năm nay, vì muốn có ma túy để phục vụ cho nhu cầu của bản thân nên đã bất chấp pháp luật dấn thân vào con đường phạm tội. Trong quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo đã thành khẩn khai báo nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, để thể hiện sự khoan hồng của Đảng, Pháp luật của Nhà nước ta đối với người phạm tội, Hội đồng xét xử cần xem xét giảm nhẹ phần nào về hình phạt cho các bị cáo khi lượng hình.
Đây là vụ án đồng phạm có tính chất giản đơn vì trước và trong khi phạm tội giữa các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công vai trò trách nhiệm cụ thể cho từng người, trong đó: Quàng Thị H là người khởi xướng và góp 400.000 đồng để mua Heroine, còn Tòng Thị X là người đã dùng xe mô tô biển kiểm soát 27F9-9730 của mình chở H đi mua ma túy về để cùng nhau sử dụng nên H và X cùng phải chịu trách nhiệm hình sự đối với khối lượng 1,05 gam Heroine đã bị thu giữ, bị cáo H có nhân thân xấu nên sẽ phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo X. Vì vậy, căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật, đồng thời đây cũng là điều kiện thuận lợi để các bị cáo từ bỏ được ma túy sớm trở lại hòa nhập với gia đình và cộng đồng.
Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù có thời hạn với mức hình phạt từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù đối với bị cáo Quàng Thị H và từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù đối với bị cáo Tòng Thị X là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Đối với đề nghị của người bào chữa về việc xử phạt bị cáo Tòng Thị X với mức án từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo bởi sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình và bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Xét đề nghị của người bào chữa về hình phạt chính là nhẹ so với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Về hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm là có căn cứ chấp nhận.
Ngoài hình phạt chính, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản đối với bị cáo.
[4] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện Điện Biên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[5] Về xử lý vật chứng: Theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 213 Bộ luật dân sự thì Hội đồng xét xử cần: Tịch thu tiêu hủy 1,05 gam Heroine (đã trích 0,04 gam gửi giám định không hoàn lại, còn lại 1,01 gam Heroine) và tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA BLADE màu đen trắng biển kiểm soát 27B1-243.96 của bị cáo Tòng Thị X đã dùng làm phương tiện phạm tội.
[6] Về các vấn đề khác: Các bị cáo khai số Heroine trên là do các bị cáo của 01 người đàn ông dân tộc Mông khoảng 40 tuổi (không biết tên và địa chỉ) nên cơ quan điều tra không có đủ cơ sở đề điều tra làm rõ. Vì vậy Hội đồng xét xử không đề cập việc xử lý đối với người này.
[7] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Quàng Thị H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Tòng Thị X phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm nhưng do bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và bị cáo có đơn xin miễn án phí hình sự sơ thẩm. Vì vậy, theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14, Hội đồng xét xử quyết định miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Tòng Thị X.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự Tuyên bố các bị cáo Quàng Thị H và Tòng Thị X phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
2. Về hình phạt:
* Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo: Quàng Thị H 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (16/4/2021).
* Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo: Tòng Thị X 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (16/4/2021).
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 213 Bộ luật dân sự:
- Tịch thu tiêu hủy 1,05 gam Heroine (đã trích 0,04 gam gửi giám định không hoàn lại, còn lại 1,01 gam Heroine) là vật chứng của vụ án.
- Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA BLADE màu đen trắng biển kiểm soát 27B1-243.96 của bị cáo Tòng Thị X đã dùng làm phương tiện phạm tội.
Vật chứng đã được Công an huyện Điện Biên bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/6/2021 giữa Công an huyện Điện Biên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Quàng Thị H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Tòng Thị X.
5. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự các bị cáo Quàng Thị H và Tòng Thị X có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (21/7/2021).
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát huyện ĐB; - Viện kiểm sát tỉnh Điện Biên; - HSNV Công an huyện ĐB; - CQĐT Công an huyện ĐB; - Nhà tạm giữ Công an huyện ĐB; - Bị cáo; - Người bào chữa; - Chi cục Thi hành án DSHĐB; - Toà án tỉnh Điện Biên; - Công an trại tạm giam; - Sở tư pháp tỉnh ĐB; - Lưu hồ sơ vụ án; - Hồ sơ THA hình sự; - Lưu VP. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Vũ Thị Tuyến |