- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bùi Thị Ngọc Hân ly hôn với Đỗ Thanh Hiếu"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 206/2021/HNGĐ - ST Ngày : 26/11/2021 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Thanh Việt
2. Ông Phạm Ngọc Nguyên
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Thành Thái, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên không tham gia phiên tòa.
Ngày 26 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 376/2020/TLST-HNGĐ, ngày 16 tháng 6 năm 2020 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 389/2021/QĐXXST - HNGĐ ngày 19 tháng 10 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 394/2021/QĐST - HNGĐ ngày 05 tháng 11 năm 2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Ngọc H, sinh năm 1999 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Số 318/7A, tổ 13, khóm Tây Khánh 2, phường Mỹ Hòa, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang;
- Bị đơn: Ông Đỗ Thanh H1, sinh năm: 1998 (vắng mặt)
Địa chỉ: số 124/3A, tổ 6, khóm Tây Khánh 8, phường Mỹ Hòa, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng ngày 17/5/2021 và tại biên bản không tiến hành hòa giải được, nguyên đơn bà Bùi Thị Ngọc H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Hân và ông Hiếu do tự quen biết, tìm hiểu và tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 2016, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Mỹ Hòa, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang vào ngày 01/6/2018, đây là hôn nhân lần thứ nhất của cả hai. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hòa hợp, ông Hiếu không chăm lo kinh tế gia đình, vợ chồng thường xuyên cãi vã, sống ly thân từ tháng 02/2021 đến nay. Bà Hân nhận thấy vợ chồng sống với nhau không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Hân yêu cầu được ly hôn với ông Hiếu.
Về quan hệ con chung: có 01 con chung tên Đỗ Nhựt Hào, sinh ngày: 13/8/2016. Sau khi ly hôn bà Hân yêu cầu trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông Hiếu cấp dưỡng nuôi con.
Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Đỗ Thanh H1 không nộp cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà Hân và vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án:
Bà Hân có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt vào ngày 19/10/2021, lý do phải đi làm, điều kiện đi lại khó khăn. Ông Hiếu vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên không tham gia phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Tranh chấp giữa bà Bùi Thị Ngọc H và ông Đỗ Thanh H1 là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý giải quyết.
Bà Bùi Thị Ngọc H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt do phải đi làm, đi lại khó khăn nên không về dự tòa được. Căn cứ khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bà Hân.
[1.3] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định tại Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự, ông Hiếu trực tiếp ký nhận các văn bản do Tòa án tống đạt, tuy nhiên ông Hiếu vẫn vắng mặt suốt quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa hôm nay. Do đó, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông Hiếu.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Hân và ông Hiếu tự tìm hiểu, yêu thương, sau đó tiến tới hôn nhân vào năm 2016 và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Mỹ Hòa vào ngày 01/6/2018. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, ông Hiếu không chăm lo kinh tế gia đình, vợ chồng thường xuyên cãi vã và sống ly thân từ 02/2021 đến nay. Nhận thấy vợ chồng sống với nhau không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Hân yêu cầu được ly hôn với ông Hiếu.
Bị đơn được Tòa án nhiều lần tống đạt các văn bản tố tụng, ông Hiếu đã trực tiếp ký nhận các văn bản. Tuy nhiên, ông Hiếu vẫn không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình qua yêu cầu ly hôn của bà Hân và không đến tham gia hòa giải. Như vậy, ông Hiếu đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ của bị đơn được quy định tại Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự và đồng nghĩa với việc ông không còn quan tâm đến mối quan hệ hôn nhân của mình.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng động viên bà Hân và tạo thêm thời gian để vợ chồng bà Hân - ông Hiếu có cơ hội để hàn gắn tình cảm. Tuy nhiên, bà Hân vẫn cương quyết giữ yêu cầu ly hôn vì từ khi vợ chồng ly thân đến nay vợ chồng bà vẫn không hàn gắn được tình cảm. Từ đó, có thể nhận thấy tình cảm của bà Hân dành cho chồng không còn, tình trạng mâu thuẫn trong hôn nhân của ông bà đã trầm trọng. Xét thấy, mục đích hôn nhân giữa bà Hân và ông Hiếu không đạt được, nếu tiếp tục duy trì cuộc hôn nhân này cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của bà Hân được ly hôn với ông Hiếu.
Về quan hệ con chung: Bà Hân và ông Hiếu có 01 con chung tên Đỗ Nhựt Hào, sinh ngày: 13/8/2016. Lời khai của bà Hân phù hợp với bản sao trích lục khai sinh do Ủy ban nhân phường Mỹ Hòa cấp. Xét thấy, từ khi vợ chồng ly thân đến nay cháu Hào đều do bà Hân trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó, nhằm đảm bảo ổn định về tinh thần và đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chung nên chấp nhận yêu cầu được nuôi con của nguyên đơn, giao cháu Hào cho bà Hân trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng căn cứ theo quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Xét thấy, người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Bà Hân không yêu cầu ông Hiếu cấp dưỡng nuôi con, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
Bà Hân và gia đình phải tạo điều kiện thuận lợi cho ông Hiếu được thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung. Việc nuôi con không cố định.
Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Bà Hân không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung. Do bị đơn ông Hiếu cũng không có ý kiến về việc phân chia tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này, các bên phát sinh tranh chấp thì sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.
Về án phí: Bà Bùi Thị Ngọc H phải nộp án phí Hôn nhân sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 177; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 238, Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Ngọc H.
[1] Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Bùi Thị Ngọc H với ông Đỗ Thanh H1.
Giấy chứng nhận kết hôn số 89 do Ủy ban nhân dân phường Mỹ Hòa, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang cấp cho bà Bùi Thị Ngọc H với ông Đỗ Thanh H1 ngày 01/6/2018 hết hiệu lực kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
[2] Về con chung: Bà Bùi Thị Ngọc H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Đỗ Nhựt Hào, sinh ngày 13/8/2016.
Ông Đỗ Thanh H1 không trực tiếp nuôi con chung nhưng ông có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được ngăn cản ông Hiếu thực hiện quyền này.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
[3] Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Đỗ Thanh H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà Hân không yêu cầu.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: không xem xét, giải quyết.
[5] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Bùi Thị Ngọc H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000503 ngày 16 tháng 6 năm 2021 tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Long Xuyên. Bà Hân đã nộp đủ tiền án phí.
[6] Về quyền kháng cáo: Bà Hân, ông Hiếu được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND TP Long Xuyên;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND tỉnh An Giang;
- Chi cục THADS TP.Long Xuyên;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- VP (5)./.
Nguyễn Thị Dung
| Nơi nhận: - Các đương sự ; - VKSND TPLX; - TAND tỉnh An Giang; - Chi cục THADS TPLX; - Lưu: hồ sơ, VP./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Phạm Xuân Khanh |