- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Trọng N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 206/2020/HS-ST Ngày: 28/10/2020. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Cảnh
Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Nguyễn Văn Ba
+ Bà Lê Thị Ánh Sáng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Mai- Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đồng- Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 10 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 211/2020/TLST-HS ngày 12 tháng 10 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 211/2020/QĐXXST- HS ngày 16 tháng 10 năm 2020, đối với bị cáo:
Bùi Trọng N, sinh năm: 1995, tại Bình D. Nơi đăng ký thường trú: Khu phố 6, phường Chánh N, Thành phố Thủ Dầu M, tỉnh Bình D; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn Đ và bà Nguyễn Thị Tuyết H; bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 29/10/2019, bị Công an Phường Nghĩa C, Thành phố Thủ Dầu M, tỉnh Bình D xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; bị bắt tạm giữ ngày 05/7/2020. (Có mặt)
- Người làm chứng: Anh Nguyễn Lê H, sinh năm: 1970. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lúc 13 giờ 00 ngày 05/7/2020, tổ tuần tra kiểm soát giao thông Công an huyện Long Thành tiến hành kiểm tra tốc độ các phương tiện giao thông trên tuyến đường Lê Duẩn thuộc xã An P, huyện Long T, tỉnh Đồng N thì phát hiện Bùi Trọng N điều khiển xe mô tô biển số 61E1- 624.83 hướng từ Biên Hòa đi Vũng Tàu chạy quá tốc độ qui định nên tiến hành kiểm tra phương tiện. Khi N dừng xe lại, N liền lấy trong túi quần Jean phía trước bên trái 01 bao thuốc lá hiệu Jet định ném xuống đường thì bị tổ tuần tra phát hiện thu giữ, kiểm tra bên trong gói thuốc có 01 túi nilon kích thước 06 x 4,5 cm chứa các hạt tinh thể màu trắng nghi là ma túy. Qua làm việc, N khai trước khi đi Vũng Tàu chơi N có gặp người bạn tên “Chó Con” (chưa rõ tên tuổi, địa chỉ) đưa cho N bao thuốc lá hiệu Jet bên trong có chứa ma túy để N sử dụng. Trên đường đi từ Thành phố Thủ Dầu M, tỉnh Bình D đến đường Lê Duẩn thuộc xã An P, huyện Long T thì bị tổ tuần tra kiểm soát giao thông Công an huyện Long Thành phát hiện bắt giữ đưa N về Công an xã An P, huyện Long T lập biên bản phạm tội quả tang, chuyển Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành xử lý theo thẩm quyền.
Tại bản kết luận giám định số: 1377/PC09-GĐMT ngày 09/7/2020 của Phòng kĩ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận:
- Mẫu tinh thể màu trắng (kí hiệu M) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 1,0517gam loại Methamphetamine.
Tại Cáo trạng số: 226/CT-VKSLT ngày 09 tháng 10 năm 2020 Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã truy tố bị cáo Bùi Trọng N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Bùi Trọng N về tội danh, khung hình phạt, Điều luật áp dụng như bản Cáo trạng đã nêu, đồng thời đề nghị;
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Bùi Trọng N mức án từ 12 (mười hai) đến 16 (mười sáu) tháng tù.
Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Đề nghị tuyên tịch thu, tiêu hủy: Mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong số: 1377/PC09-GĐMT.
Đối với 01 xe mô tô biển số 61E1- 624.83, chủ sở hữu của bị cáo N. Xét không liên quan đến vụ án đề nghị tuyên trả lại xe trên cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Trọng N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã mô tả, bị cáo không có ý kiến gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Trọng N đã khai nhận. Lúc 13 giờ 00 phút ngày 05/7/2020, bị cáo điều khiển xe mô tô từ Thành phố Thủ Dầu M, tỉnh Bình D đi Vũng Tàu, khi đến đoạn đường Lê Duẩn thuộc xã An P, huyện Long T thì bị tổ tuần tra kiểm soát giao thông Công an huyện Long Thành kiểm tra phát hiện bắt quả tang bị cáo tàng trữ ma túy đựng trong gói thuốc lá Jet, loại ma túy Methamphetamine. Lời khai nhận của bị cáo trùng khớp lời khai ban đầu, lời khai người làm chứng cùng các chứng cứ khác được thu thập có tại hồ sơ vụ án.
Hành vi phạm tội của bị cáo Bùi Trọng N đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bản thân bị cáo đã có tiền sự, đã bị Công an Phường Nghĩa C, Thành phố Thủ Dầu M, tỉnh Bình D xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Vì vậy, mức án bị cáo nhận lãnh phải nghiêm mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
Quan điểm và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử và có căn cứ pháp luật nên được chấp nhận.
Đối với phần trình bày của bị cáo Bùi Trọng N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra và lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa.
Đối với tên “Chó Con” có hành vi đưa ma túy cho bị cáo N. Hiện không rõ nhân thân, lại lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.
Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đều đảm bảo, phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng Hình sự; các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ.
Biện pháp tư pháp:
Xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong số: 1377/PC09-GĐMT ngày 10/7/2020 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai.
- 01 xe mô tô biển số 61E1- 624.83, số máy KB11E1103183, số khung MH1KB1111GK099887, chủ sở hữu của bị cáo N. Xét không liên quan đến vụ án nên hoàn trả lại xe trên cho bị cáo Bùi Trọng N.
(Vật chứng nêu trên Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Thành đang tạm giữ, tại biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 09/10/2020).
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Bị cáo Bùi Trọng N phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 269, Điều 298, Điều 299, Điều 326, Điều 327, Điều 329, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tuyên bố bị cáo Bùi Trọng N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
1- Về hình phạt:
Xử phạt: Bị cáo Bùi Trọng N 01 (một) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 05/7/2020.
Tịch thu, tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong số: 1377/PC09-GĐMT ngày 10/7/2020 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai.
Trả lại cho bị cáo Bùi Trọng N 01 xe mô tô biển số 61E1- 624.83, số máy KB11E1103183, số khung MH1KB1111GK099887.
(Vật chứng nêu trên, Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Thành đang tạm giữ tại biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 09/10/2020).
2- Về án phí:
Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự;
Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Bị cáo Bùi Trọng N phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3- Quyền kháng cáo: Bị cáo Bùi Trọng N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKS ND cùng cấp; - VKS ND cấp trên; - CQ ĐT cùng cấp; - CQ THA HS có thẩm quyền; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Tấn Cảnh |