- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn M và ĐP - ĐB - đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M (Nguyễn M) và Đặng Thị M1 (Đặng M1) phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 205/2026/HS-ST Ngày: 21/7/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Huy Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thu Huyền và bà Nguyễn Thị Liên.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Diệu Anh - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Bắc Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 6 - Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 212/2026/TLST-HS ngày 24/6/2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 211/2026/QĐXXST-HS ngày 03/7/2026; Quyết định hoãn phiên tòa số: 35/2026 HSST - QĐ ngày 16/7/2026 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn M, sinh năm 1978; Số CCCD: 030078002445; HKTT: thôn M, phường T, thành phố Hải Phòng; Nơi đăng ký tạm trú: Tổ dân phố B, phường V, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn T và bà Phạm Thị H; Bị cáo có vợ là Trần Thị L, sinh năm 1980 và có 02 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2009. Tiền sự: Không có.
Tiền án: Tại Bản án số 117/2023/HS-ST ngày 28/11/2023, Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng (trước sáp nhập) xử phạt 24 tháng tù về tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép” theo quy định tại khoản 1 Điều 348 BLHS. Bị cáo chấp hành xong án phạt tù ngày 26/3/2025.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/04/2026 đến ngày 08/4/2026 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên toà.
2. Đặng Thị M1, sinh năm 1984; Số CCCD: 019184015079; HKTT: xóm M, xã Đ, tỉnh Thái Nguyên; Nơi đăng ký tạm trú: xóm N, Tổ dân phố B, phường V, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Đặng Văn T1 và bà Lương Thị H1; Bị cáo có chồng là Trần Văn V, sinh năm 1986 (Đã ly hôn) và có 01 con, sinh năm 2009. Tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/04/2026 đến ngày 08/4/2026 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên toà.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Khương Thị Hồng P, sinh năm 1971; HKTT: Tổ dân phố số B, phường Q, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở hiện nay: P- 0207, tòa CT2, chung cư C, phường V, tỉnh Bắc Ninh. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 18 giờ 10 phút ngày 31/3/2026, nhận được tin báo về việc; Nguyễn Văn M (N) có biểu hiện đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề qua zalo tại phòng trọ của Nguyễn M ở tổ dân phố B. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã tiến hành kiểm tra và thu giữ của Nguyễn M: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xsmax, màu đen, số IMEI 1: 353103104698027, số IMEI 2: 353103104593657, kèm sim vật lý số 0776.570.899 và yêu cầu Nguyễn M về trụ sở làm việc.
Quá trình làm việc, Nguyễn M đã tự nguyện đầu thú về hành vi đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề thông qua ứng dụng mạng xã hội Zalo cho Khương Thị Hồng P và Đặng Thị M1 (Đặng M1). Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành kiểm tra chiếc điện thoại đã thu giữ của Nguyễn M phát hiện: Tại ứng dụng mạng xã hội Zalo có tên tài khoản là “C” đăng ký bằng số điện thoại 0776.570.899 của Nguyễn M có nội dung nhận số lô, số đề trong ngày 31/3/2026 từ tài khoản Zalo có tên “Ngọc Bảo” đăng ký bằng số điện thoại 0966.012.223 của Đặng M1 và nhận số lô, số đề trong ngày 31/3/2026 từ tài khoản Zalo có tên “Hồng P” đăng ký bằng số điện thoại 0389.604.028 của P.
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xác minh, triệu tập Đặng M1 và P lên làm việc. Cùng ngày, Đặng M1 đã tự nguyện đến cơ quan Cảnh sát điều tra đầu thú và khai nhận hành vi mua số lô, số đề của Nguyễn Mai thông Q ứng dụng Zalo. Quá trình làm việc, Đặng M1 đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu đen, số IMEI: 353820083011977, kèm sim vật lý số 0966.012.223. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành kiểm tra chiếc điện thoại thu giữ của Đặng M1 phát hiện: Tại ứng dụng mạng xã hội Zalo tên tài khoản là “Ngọc Bảo” của Đặng M1 có nội dung tin nhắn mua số lô, số đề với tài khoản Zalo tên “Công” của Nguyễn M với tổng số tiền là 34.945.000 đồng.
Cùng ngày, P đến cơ quan Cảnh sát điều tra làm việc và giao nộp: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 12 Turbo màu trắng - xanh, số IMEI: 865382060902224, kèm sim vật lý số 0389.604.028. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành kiểm tra chiếc điện thoại thu giữ của P xác định: trong ứng dụng mạng xã hội zalo tên tài khoản “Hồng Phương” của P có nội dung tin nhắn mua số lô, số đề với tài khoản zalo tên “C” của Nguyễn M với tổng số tiền là 2.175.000 đồng.
Ngày 01/4/2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn M và Đặng M1, quá trình khám xét không thu giữ đồ vật gì liên quan đến hành vi phạm tội.
Ngày 21/4/2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B ra Quyết định trưng cầu giám định phục hồi dữ liệu điện tử trên 03 chiếc điện thoại thu giữ của Nguyễn M, Đặng M1 và P liên quan đến hành vi đánh bạc. Tại bản Kết luận giám định số 2040/KL-KTHS ngày 07/5/2026 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: "Không xác định được dữ liệu lưu trữ trong 03 (ba) máy điện thoại mẫu cần giám định có liên quan đến hoạt động đánh bạc và các hành vi vi phạm pháp luật khác hay không do đó không tiến hành trích xuất."
Căn cứ vào lời khai của các bị can và các tài liệu chứng cứ cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu thập, nội dung vụ án được xác định như sau:
Nguyễn M làm nghề lái xe taxi, thu nhập không ổn định nên đã nảy sinh ý định đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề cho khách để kiếm lời. Nguyễn Mai T2 đặt ra quy định bán số tiền lô là 23.000 đồng/1 điểm lô; tiền đề, tiền cửa, tiền xiên, tiền 3 càng, tiền lô quay thì sẽ thu đủ số tiền mua. Nguyễn M có mối quan hệ bạn bè xã hội với Đặng M1 và P.
Khoảng 17 giờ 45 phút ngày 31/3/2026, P đã sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 12 Turbo, kèm sim số 0389.604.028 của P nhắn tin qua mạng xã hội Zalo từ tài khoản tên “Hồng P" vào tài khoản zalo tên “Công” của Nguyễn M để mua các số lô, số đề cụ thể sau:
- Các số lô: 82, 44, 24, 42, 76 mỗi số 5 điểm = 25 điểm x 23.000 đồng/1 điểm = 575.000 đồng; Số lô xiên hai 82, 44 với số tiền 100.000 đồng; Số đề ở 10 cửa (từ giải đặc biệt đến giải ba) đối với 02 số: 82 và 44, mỗi số 20.000 đồng = 400.000 đồng; Số đề ở 10 cửa (từ giải đặc biệt đến giải ba) đối với 02 số: 24 và 42, mỗi số 10.000 đồng = 200.000 đồng; Số đề ở 2 cửa (giải đặc biệt và giải nhất) đối với 03 số: 28, 82 và 44, mỗi số 50.000 đồng = 300.000 đồng; Số lô xiên quay ba 24-42-76, mỗi cặp với số tiền 100.000 đồng = 400.000 đồng; Số lô xiên quay ba 50-94-88, mỗi cặp với số tiền 50.000 đồng = 200.000 đồng.
Tổng số tiền Phương mua số lô, số đề của Nguyễn Mai L1: 2.175.000 đồng. Sau khi P nhắn tin mua số lô, số đề của Nguyễn M thì Nguyễn M đã nhắn tin trả lời “Ok”.
Đến 18 giờ cùng ngày, Đặng M1 đã sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, kèm sim số 0966.012.223 nhắn tin qua mạng xã hội Zalo từ tài khoản tên “Ngọc B” vào tài khoản zalo tên “Công” của Nguyễn M để mua các số lô, số đề cụ thể sau:
- Các số lô: 08, 80, 47, 66, 68, 86, 99, 66, 44, 55, 14, 41, 99, 32, 17, 71, 55, 09, 90 với mỗi số 30 điểm = 570 điểm x 23.000 đồng = 13.110.000 đồng; Các số lô: 08, 80, 78, 87, 48, 84, 79, 97, 03, 30, 08, 80, 02, 17, 71, 03, 30, 47, 74 với mỗi số 20 điểm = 380 điểm x 23.000 đồng = 8.740.000 đồng; Các số lô: 69, 96, 70, 66, 44, 09, 90, 99, 36, 63, 55, 57, 75 với mỗi số 25 điểm = 325 điểm x 23.000 đồng = 7.475.000 đồng; Các số lô: 48, 84, 88 với mỗi số 50 điểm = 150 điểm x 23.000 đồng = 3.450.000 đồng; Số lô xiên bốn: 17-64-77-55 với số tiền 200.000 đồng; Số lô xiên ba 55-44-32 với số tiền 200.000 đồng; Số lô xiên ba 99-48-88 với số tiền 90.000đồng; Các số đề ở giải nhất 16, 61, 26, 62, 36, 62, 26, 62, 66 mỗi số với số tiền là 40.000 đồng = 360.000 đồng; Các cặp lô xiên quay bốn gồm: 08-80-88-86, mỗi cặp với số tiền 30.000 đồng = 330.000 đồng; 99-66-96-80 mỗi cặp với số tiền 20.000 đồng = 220.000 đồng; 08-80-14-41 mỗi cặp với số tiền 40.000 đồng = 440.000 đồng; 57, 44, 48, 35 mỗi cặp với số tiền 30.000 đồng = 330.000 đồng.
Tổng số tiền Đặng M1 đã mua số lô, số đề của Nguyễn Mai L1: 34.945.000 đồng. Sau khi Đặng M1 nhắn tin mua số lô, số đề của Nguyễn M thì Nguyễn M2 nhắn tin trả lời “ok”.
Nguyễn M thỏa thuận với Đặng M1 và P là sau khi có kết quả mở thưởng xổ số kiến thiết miền B sẽ đối chiếu số trúng, số không trúng để thanh toán tiền cho nhau nên Đặng M1 và P chưa trả tiền mua số lô, số đề cho Nguyễn M. Sau đó, Nguyễn M bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện hành vi bán số lô, số đề cho Đặng M1 và P và bị thu giữ những vật chứng như đã nêu trên. Thời điểm Nguyễn M bị phát hiện, kết quả xổ số kiến thiết Miền B chưa quay thưởng.
Cách thức đánh bạc dưới hình thức chơi số lô, số đề như sau: Người chơi mua số “đề” thì so sánh giải thưởng của kết quả mở thưởng xổ số kiến thiết Miền B trong ngày: Nếu đánh đề 2 cửa là bao gồm giải nhất và giải đặc biệt, còn 10 cửa là tính từ giải đặc biệt đến giải ba. Nếu đánh đề 2 cửa thì so với hai số cuối của giải nhất và giải đặc biệt mà trùng với số của người chơi đã mua thì người chơi (mua) sẽ được thanh toán số tiền gấp 80 lần số tiền người chơi đã mua. Còn đánh đề 10 cửa thì so với hai số cuối tất cả dãy số từ giải đặc biệt đến giải ba, nếu trùng với số của người chơi đã mua thì người chơi (mua) sẽ được thanh toán số tiền gấp 80 lần số tiền người chơi đã mua. Số đề ba càng được lấy theo 03 số cuối của giải đặc biệt, nếu trúng thì sẽ được trả số tiền gấp 400 lần tiền mua. Đối với chơi số lô, được dựa theo 02 số cuối của tất cả các giải thưởng kết quả mở thưởng xổ số kiến thiết Miền Bắc trong ngày (27 giải) để làm căn cứ. Chơi số lô được tính theo điểm, người chơi trúng số lô được trả số tiền là 80,000 đồng/1 điểm. Đối với chơi lô xiên cũng lấy 2 số cuối của tất cả các giải thưởng kết quả mở thưởng xổ số kiến thiết Miền Bắc trong ngày (27 giải) để làm căn cử. Lô xiên gồm: lô xiên 2 là có 2 cặp số, lô xiên 3 là có 3 cặp số, người chơi trúng lô xiên 2 được trả số tiền gấp 12 lần số tiền đã mua, trúng lô xiên 3 được trả số tiền gấp 45 lần, xiên 4 ăn gấp 125 lần; xiên quay 3 là chọn 3 số bất kỳ tạo thành 3 cặp xiên 2 và 1 cặp xiên 3; xiên quay 4 là chọn 4 số bất kỳ tạo thành 6 cặp xiên 2, 4 cặp xiên 3 và 1 cặp xiên 4. Cách tỉnh trúng thưởng xiên quay: nếu trúng từ 02 số trở lên sẽ tính theo số các cặp xiên 2, xiên 3, xiên 4. Nếu người chơi không trúng số đề, số lô, lô xiên, cửa thì bị mất số tiền đã ghi (mua) số lô, số đề, lô xiên và cửa với người nhận ghi (bán). Nguyễn Mai bán số lô, số đề cho Đặng M1 và P thì không chuyển cho người khác mà trực tiếp thanh toán thắng thua với người mua.
Ngày 29/5/2026, Đặng M1 đã tự nguyện nộp số tiền là 34.945.000 đồng theo Biên lai thu tiền Ký hiệu số: BLTT/26E; Số: 0001857 tại Cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh. Ngày 15/6/2026, Khương Thị Hồng P đã tự nguyện nộp số tiền là 2.175.000 đồng theo Biên lai thu tiền Ký hiệu số: BLTT/26E; Số: 0002062 tại Cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, Nguyễn Văn M và Đặng Thị M1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nêu trên.
Với nội dung trên, Cáo trạng số: 67/CT-VKS-KV6 ngày 22/06/2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Bắc Ninh truy tố Nguyễn Văn M và Đặng Thị M1 ra trước Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Bắc Ninh để xét xử các bị cáo về tội: “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo đều khai nhận hành vi như bản cáo trạng truy tố là đúng cụ thể các bị cáo khai nhận:
Bị cáo Nguyễn Mai K nhận hồi 17h 45 phút ngày 31/03/2026 bị cáo có hành vi đánh bạc bằng hình thức nhắn tin nhắn qua zalo cho Khương Thị Hồng P để bán các số lô, số đề. Tổng số tiền Phương mua số lô, số đề của bị cáo là 2.175.000 đồng. Đến 18h cùng ngày bị cáo lại nhận tin nhắn bán tiếp số lô số đề cho Đặng M1 với số tiền là 34.945.000 đồng. Các bên thỏa thuận là sau khi có kết quả mở thưởng xổ số kiến thiết Miền Bắc sẽ đối chiếu số trúng, số không trúng để thanh toán tiền cho nhau nên Đặng M1 và P chưa trả tiền mua số lô, số đề cho bị cáo. Sau đó, bị cáo bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện hành vi bán số lô, số đề như đã nêu trên. Quá trình làm việc bị cáo đã giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xsmax, màu đen, số IMEI 1: 353103104698027, số IMEI 2: 353103104593657, kèm sim vật lý số 0776.570.899 bị cáo đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Trước khi xét xử ngày 21/07/2026 bị cáo nhận thức hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật nên bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 1.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền Ký hiệu số: BLTT/26E; Số: 0000277 tại Cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh để khắc phục hậu quả.
Bị cáo Đặng M1 khai nhận bản thân có mua số lô số đề Nguyễn M tổng số tiền bị cáo mua của Nguyễn M là 34.945.000 đồng bị cáo chưa chuyển tiền cho Nguyễn M và bị cáo đã thỏa thuận với bị cáo Nguyễn Mai N đã trình bày trên là đúng. Sau khi biết bị cáo Nguyễn Mai B1 phát hiện hành vi đánh bạc thì bị cáo đã đến Cơ quan cảnh sát điều tra đầu thú về hành vi đánh bạc với Nguyễn M và bị cáo đã giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu đen, số IMEI: 353820083011977, kèm sim vật lý số 0966.012.223 điện thoại này bị cáo dùng để liên lạc và mua số lô số đề với bị cáo Nguyễn Mai . Đối với số tiền mà bị cáo đã nộp tại Cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh B ngày 29/05/2026 là số tiền bị cáo dùng để mua số lô số đề của bị cáo Nguyễn M nhưng bị cáo chưa thanh toán cho Nguyễn Mai N1 bị cáo đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Trong đơn xin xét xử vắng mặt và lời khai tại cơ quan điều tra của N2 có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Khương Thị Hồng P trình bày; hồi 17 giờ 45 phút ngày 31/3/2026, P đã sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 12 Turbo, kèm sim số 0389.604.028 của P nhắn tin qua mạng xã hội Zalo từ tài khoản tên “Hồng P" vào tài khoản zalo tên “Công” của Nguyễn M để mua các số lô, số đề, tổng số tiền là 2.175.000 đồng số tiền này chưa thanh toán cho Nguyễn Văn M, khi biết M bị công an gọi lên làm việc bản thân P đã đến Công an trình báo và giao nộp 01 chiếc điện thoại Redmi Note 12 Turbo màu trắng xanh số sim là 0938.604.028 và ngày 15/06/2026 bản thân đã đến Cơ quan thi hành án dân sự nộp số tiền 2.175.000 đồng nay bản thân biết việc làm là vi phạm pháp luật đối với điện thoại và số tiền liên quan đến hành vi vi phạm đề nghị Tòa án xem xét giải quyết và không có ý kiến gì xin được vắng mặt tại phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Bắc Ninh được phân công thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nguyên nhân, điều kiện phạm tội và những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M (N) và Đặng Thị M1 (Đặng M1) phạm tội “Đánh bạc”.
Về hình phạt:
- Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù đến 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 01/04/2026 đến ngày 08/04/2026. Phạt bổ sung bị cáo từ 10 triệu đến 15 triệu đồng sung ngân sách Nhà nước.
- Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Đặng Thị M1 từ 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù đến 01 (một) năm 07 (bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 02 (hai) năm 08 (tám) tháng đến 03 (ba) năm 02 (hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung bị cáo từ 10 triệu đến 15 triệu đồng sung ngân sách Nhà nước.
Giao bị cáo Đặng Thị M1 cho cho Ủy ban nhân dân phường V, tỉnh Bắc Ninh quản lý, giáo dục trong thời gian chấp hành án.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xsmax, màu đen, số IMEI 1: 353103104698027, số IMEI 2: 353103104593657 của bị cáo Nguyễn Văn M; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu đen, số IMEI: 353820083011977 của bị cáo Đặng Thị M1.
Sung ngân sách nhà nước: Số tiền 34.945.000 đồng của bị cáo Đặng Thị M1 theo Biên lai thu tiền Ký hiệu số: BLTT/26E; Số: 0001857 ngày 29/05/2026 và số tiền 2.175.000 đồng của chị Khương Thị Hồng P theo Biên lai thu tiền Ký hiệu số: BLTT/26E; Số: 0002062 ngày 15/06/2026 tại Cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
Tịch thu tiêu hủy: 01 sim số 0776.570.899 của bị cáo Nguyễn Văn M và 01 sim số 0966.012.223 của bị cáo Đặng Thị M1.
Tạm giữ số tiền 1.000.000 đồng của bị cáo Nguyễn Văn M theo B2 lại thu tiền Ký hiệu: BLTT/26E; Số: 0000277 ngày 21/07/2026 tại Cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh để đảm bảo thi hành án.
Các bị cáo không tranh luận với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Bắc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, biên bản kiểm tra điện thoại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 17 giờ 45 phút, ngày 31/03/2026 Tại phòng trọ của Nguyễn Văn M ở TDP B, phường V, tỉnh Bắc Ninh. Nguyễn Văn M có hành vi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức bán số lô số đề cho Khương Thị Hồng P số tiền 2.175.000 đồng. Đến 18 h cùng ngày, Đặng Thị M1 đánh bạc bằng hình thức mua số lô số đề của Nguyễn Văn M với tổng số tiền là 34.945.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền Nguyễn Văn M đã đánh bạc bằng hình thức bán số lô số đề trong ngày 31/03/2026 là 37.120.000. Khi Nguyễn Văn M đã nhận được các số lô, số đề của P và Thị M1 thì bị cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang và chưa có kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc nên chưa xác định được tỷ lệ thắng thua. Như vậy, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Bắc Ninh là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân và dư luận xấu trong xã hội. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm đối với các bị cáo bằng luật hình mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét về tính chất và vai trò của các bị cáo trong vụ án thì thấy: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn. Bị cáo Nguyễn Văn M là người trực tiếp bán số lô, số đề cho bị cáo Đặng Thị M1 và người có quyền lợi liên quan trong vụ án. Nguyễn Văn M trực tiếp thanh toán thắng thua với người mua số lô số đề. Do đó, bị cáo Nguyễn Văn M giữ vai trò cao hơn bị cáo Đặng Thị M1 khi thực hiện hành vi phạm tội.
Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thì thấy:
Bị cáo Đặng Thị M1 là người có nhân thân tốt. Quá trình điều tra và tại phiên tòa thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo nhận thức được hành vi là sai nên đã tự giác đến cơ quan công an đầu thú. Mặt khác trong quá trình điều tra bị cáo đã tự nguyện nộp lại số tiền đánh bạc là 34.945.000 đồng tại Cơ quan thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh nhằm khắc phục hậu quả; Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiện hình sự; Xét thấy, chỉ cần áp dụng hình phạt theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự cũng đủ răn đe đối với bị cáo.
Đối với bị cáo Nguyễn Văn M là người có nhân thân xấu. Tại Bản án số 117/2023/HS-ST ngày 28/11/2023, Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng xử phạt 24 tháng tù về tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép” mặc dùng bị cáo đã chấp hành xong án phạt tù ngày 26/3/2025 nhưng đến ngày phạm tội mới bị cáo chưa được xóa án tích, do vậy lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; Bản thân bị cáo không có ý thức rèn luyện, cải tạo mà lại tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý. Điều đó thể hiện thái độ coi thường pháp luật của bị cáo. Nên đối với lần phạm tội này, cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, khi được mời lên làm việc bị cáo đã đầu thú khai nhận hành vi phạm tội của bản thân, trước khi xét xử bị cáo tự nguyện nộp khoản tiền nhất định tại Cơ quan thi hành án mục đích để khắc phục hành vi trái pháp luật nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
Ngoài hình phạt chính, tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự còn quy định có thể áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với người phạm tội. Xét thấy, cần áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối các bị cáo để tăng tính răn đe, giáo dục bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Đối với số tiền mà bị cáo Đặng Thị M1 và người liên quan là Khương Thị Hồng P đã tự nguyện nộp tại Cơ quan thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh vào các ngày 29/05/2026 và ngày 15/06/2026 tổng số tiền là: 37.120.000 đồng xét thấy số tiền này liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xsmax, màu đen, số IMEI 1: 353103104698027, số IMEI 2: 353103104593657 thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn M; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu đen, số IMEI: 353820083011977 thu giữ của bị cáo Đặng Thị M1 xét thấy những chiếc điện thoại này là công cụ dùng vào việc phạm tội, có giá trị nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 sim số: 0776.570.899 của bị cáo Nguyễn Văn M và 01 sim số 0966.012.223 của bị cáo Đặng Thị M1 liên quan đến hành vi phạm tội không còn giá trị cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 12 Turbo, màu trắng xanh, số IMEI 1: 865382060902224, số IMEI 2: 865382060902232, lắp sim số 0389.604.028 thu giữ của người liên quan là chị Khương Thị Hồng P; Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 106/QĐ-XPHC ngày 28/05/2026 của Công an phường V đã xử lý đối với chiếu điện thoại này; tuy nhiên chiếc điện thoại này vẫn chuyển theo hồ sơ trong vụ án vậy đề nghị Cơ quan thi hành án dân sự Bắc Ninh phối hợp với Cơ quan Công an phường Võ Cường để xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với số tiền 1.000.000 đồng của bị cáo Nguyễn Văn M theo B2 lại thu tiền Ký hiệu: BLTT/26E; Số: 0000277 ngày 21/07/2026 tại Cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Liên quan trong vụ án đối với hành vi mua số lô, số đề của Khương Thị Hồng P tuy nhiên số tiền sử dụng vào hành vi đánh bạc của P chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự, bản thân P chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc. Vì vậy ngày 28/05/2026 Trường Công an phường V, tỉnh Bắc Ninh đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với P là phù hợp.
Về án phí: Các Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M (Nguyễn M) và Đặng Thị M1 (Đặng M1) phạm tội “Đánh bạc”.
2. Về hình phạt:
- Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 01/04/2026 đến ngày 08/04/2026; Phạt bổ sung bị cáo 12.000.000 đồng sung ngân sách nhà nước.
Áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo: Nguyễn Văn M, kể từ ngày tuyên án cho đến khi đi chấp hành án phạt tù.
- Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Đặng Thị M1 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng sung ngân sách nhà nước.
Giao bị cáo Đặng Thị M1 cho cho Ủy ban nhân dân phường V, tỉnh Bắc Ninh quản lý, giáo dục trong thời gian chấp hành án.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước:
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xsmax, màu đen, số IMEI 1: 353103104698027, số IMEI 2: 353103104593657 của bị cáo Nguyễn Văn M.
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu đen, dung lượng 32GB, số IMEI: 353820083011977 của bị cáo Đặng Thị M1.
Sung ngân sách nhà nước số tiền: 34.945.000 đồng của bị cáo Đặng Thị M1 theo Biên lai thu tiền Ký hiệu số: BLTT/26E; Số: 0001857 ngày 29/05/2026 tại Cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh và số tiền: 2.175.000 đồng của chị Khương Thị Hồng P theo Biên lai thu tiền Ký hiệu số: BLTT/26E; Số: 0002062 ngày 15/06/2026 tại Cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
Tịch thu tiêu hủy: 01 sim số: 0776.570.899 của bị cáo Nguyễn Văn M và 01 sim số 0966.012.223 của bị cáo Đặng Thị M1.
- Tạm giữ số tiền 1.000.000 đồng của bị cáo Nguyễn Văn M theo B2 lại thu tiền Ký hiệu: BLTT/26E; Số: 0000277 ngày 21/07/2026 tại Cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh để đảm bảo thi hành án.
- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 12 Turbo, màu trắng xanh, số IMEI 1: 865382060902224, số IMEI 2: 865382060902232, lắp sim số 0389.604.028 của chị Khương Thị Hồng P đề nghị Cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh phối hợp với Công an phường V để xử lý theo quy định của pháp luật.
(Theo biên bản Về việc giao nhận vật chứng, tài sản số: 151/2026 ngày 24/06/2026 giữa Công an tỉnh B với Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6- Bắc Ninh)
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc các bị cáo Nguyễn Văn M; Đặng Thị M1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án;
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt bản án hoặc bản án được niên yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND/VKSND tỉnh Bắc Ninh; - VKSNDKV6 - Bắc Ninh; - Công an tỉnh Bắc Ninh; - THADS tỉnh Bắc Ninh; - Những người tham gia tố tụng; - UBND xã (phường) nơi bị cáo cư trú; - Lưu hồ sơ, văn phòng. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Cáp Văn Dũng Nguyễn Thị Thu Huyền | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Huy Tuấn THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Huy Tuấn |