- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Y - Phạm Bé H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Y về việc xin ly hôn anh Phạm Bé H.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – CÀ MAU TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 205/2026/HNGĐ-ST Ngày 19 – 5 – 2026 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lâm Hoài Ân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Huỳnh Hưởng.
2. Bà Đỗ Mỹ Lil.
- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Vũ Phong, là Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Ngày 19 tháng 5 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 354/2026/TLST - HNGĐ ngày 13 tháng 4 năm 2026 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 369/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Y, sinh năm 1987; Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 04/3/2022, nơi cấp: Cục C1 về TTXH; Địa chỉ: Ấp L, xã N, tỉnh Cà Mau (xin vắng mặt).
2. Bị đơn: Anh Phạm Bé H, sinh năm 1986; Địa chỉ: Ấp L, xã N, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Về hôn nhân, chị Trần Thị Y và anh Phạm Bé H chung sống với nhau trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau nay thuộc Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Cà Mau vào năm 2013. Trong thời gian đầu, giữa vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hòa hợp và đã sống ly thân hơn một năm nay nên chị Y yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H.
Về con chung, chị Trần Thị Y và anh Phạm Bé H chung sống với nhau có 03 người con chung là Phạm Minh T, sinh ngày 13/10/2014; Phạm Hạo N, sinh ngày 12/11/2017 và Phạm Kim C, sinh ngày 17/4/2021. Khi ly hôn, chị Y yêu cầu được nuôi cháu T và cháu C, giao cháu N cho anh H nuôi và không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, riêng cháu N có nguyện vọng được chung sống anh H, cháu T có nguyện vọng được sống với chị Y.
Về tài sản chung và nợ chung, chị Trần Thị Y khai không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đồng thời, chị Trần Thị Y (nguyên đơn) đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt chị. Đối với anh Phạm Bé H (bị đơn), Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh H vẫn vắng mặt, không có lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Về thủ tục tố tụng, bị đơn đã được triệu tập tham gia phiên tòa xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng đều vắng mặt, không có lý do. Riêng nguyên đơn đã có lời khai và có yêu cầu xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng Dân sự chấp nhận yêu cầu xin vắng mặt của nguyên đơn và tiến hành đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn.
Về hôn nhân, nguyên đơn và bị đơn chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau nay thuộc Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Cà Mau theo giấy chứng nhận kết hôn số: 99, ngày 14/11/2013 nên hôn nhân của các đương sự được pháp luật công nhận và bảo vệ. Mặc dù, trong suốt quá trình tố tụng, bị đơn biết được việc nguyên đơn khởi kiện nhưng bị đơn không đến Tòa, không gửi văn bản ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn là tự từ bỏ nghĩa vụ chứng minh của mình đều đó cho thấy bị đơn không mong muốn hàn gắn mối quan hệ hôn nhân với nguyên đơn nên lời trình bày của nguyên đơn về thời gian chung sống, nguyên nhân mâu thuẫn và thời gian sống ly thân là có căn cứ. Do đó, yêu cầu ly hôn của nguyên đơn được chấp nhận.
Về con chung là: Phạm Minh T, sinh ngày 13/10/2014; Phạm Hạo N, sinh ngày 12/11/2017 và Phạm Kim C, sinh ngày 17/4/2021. Mặc dù, bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và không gửi văn bản ý kiến cho Tòa xem xét nhưng Hội đồng xét xử xét thấy việc giao con cho cha hoặc mẹ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cần căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Hơn nữa, việc các đương sự ly hôn đã phần nào ảnh hưởng đến tâm lý, việc học tập và cuộc sống bình thường của con trẻ. Hiện cháu T, cháu C đang sinh sống với nguyên đơn, cháu N sinh sống với bị đơn và nguyện vọng của cháu T được sống cùng nguyên đơn, cháu N chung sống cùng bị đơn nên chấp nhận sự tự nguyện của nguyên đơn về việc nhận nuôi cháu T, cháu C và giao cháu N cho bị đơn nuôi dưỡng là phù hợp.
Đối với việc cấp dưỡng nuôi con nhằm đảm bảo nhu cầu thiết yếu của con, đảm bảo cho cuộc sống của con được đầy đủ, tốt hơn và thể hiện được trách nhiệm, tình thương của người làm cha, làm mẹ đối với con cái nhưng quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không đến Tòa, không gửi ý kiến bằng văn bản đối với việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con trong khi nguyên đơn không đồng ý cấp dưỡng cũng không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung, nguyên đơn khai không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình, nguyên đơn phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 56, 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ các Điều 144, 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Y về việc xin ly hôn anh Phạm Bé H.
- Về con chung là Phạm Minh T, sinh ngày 13/10/2014; Phạm Hạo N, sinh ngày 12/11/2017 và Phạm Kim C, sinh ngày 17/4/2021. Khi ly hôn, giao cháu N cho anh Phạm Bé H và giao cháu T, cháu C cho chị Trần Thị Y chăm sóc, nuôi dưỡng, không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Chị Y, anh H được quyền đến thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung, chị Trần Thị Y khai không có nên không đặt ra xem xét.
- Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình, chị Trần Thị Y phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Ngày 13/4/2026, chị Y đã nộp tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai số 0004257 được đối trừ, chuyển thu sung quỹ Nhà nước.
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Viện kiểm sát cùng cấp; - UBND xã Thới Bình, tỉnh Cà Mau; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lâm Hoài Ân |