- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn và nuôi con"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Thị X được ly hôn với anh Lê Văn B.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 205/2025/HNGĐ-ST Ngày 15 - 4 - 2025 V/v ly hôn và nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Mỹ Nhiên
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hà Bửu Khánh
Ba Nguyễn Thị Cẩm Bình
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
- Trường hợp Viện kiểm không tham gia phiên tòa:
Ngày 15 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 649/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2024 về ly hôn và nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 113/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Thị X, sinh năm 1992 (có đơn xin giải quyết vắng mặt)
ĐKTT: Ấp NT, xã NT, huyện Gr, tỉnh KG
Chỗ ở hiện nay: Ấp BT, xã NY, huyện AB, tỉnh KG
- Bị đơn: Anh Lê Văn B, sinh năm 1985 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp NT, xã NT, huyện Gr, tỉnh KG
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện chị Thị X nguyên đơn trình bày: Chị X và anh Lê Văn B được sự mai mối tiến tới hôn nhân có tổ chức lễ cưới vào năm 2017 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ngọc Thành, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang. Quá trình hôn nhân giữa chị và anh B không được hạnh phúc, thường xuyên cự cải. Nguyên nhân là do giữa chị và anh B không phù hợp tính ý, bất đồng quan điểm sống. Dù cả hai đã cho nhau nhiều cơ hội để sửa chữa khắc phục nhưng không có kết quả mà dẫn đến vợ chồng phải sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Nay chị xét thấy giữa chị và anh B không còn tình cảm vợ chồng, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Lê Văn B.
Về con chung: Chị X và anh B có với nhau 02 người con chung gồm Lê Trung H, sinh ngày 16/4/2018, hiện đang sống cùng với anh B. Cháu Lê Trọng H1, sinh ngày 02/9/2020, hiện đang sống cùng chị. Nay chị giao cháu Lê Trung H cho anh B trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, chị nuôi cháu Lê Trọng H. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Lê Văn B đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng nhưng không có văn bản, ý kiến phản hồi về yêu cầu của nguyên đơn.
Tòa án đã triệu tập anh B đến tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải đến lần thứ hai và triệu tập đến tham dự phiên tòa đến lần thứ hai nhưng anh B vẫn vắng mặt, không vì lí do bất khả kháng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành thụ lý đơn đúng trình tự thủ tục, đúng thẩm giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, anh B với tư cách là bị đơn trong vụ án có nơi cư trú tại ấp Ngọc Trung, xã Ngọc Thành, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang nên căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang. Quá trình tố tụng nguyên đơn có đơn xin vắng mặt và bị đơn vắng mặt căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Thị X và anh Lê Văn B là hôn nhân hợp pháp đã tuân thủ đúng các điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ngọc Thành, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang đúng thẩm quyền đăng ký kết hôn quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình. Nguyên nhân dẫn đến ly hôn chị X cho rằng giữa chị anh B thường xuyên cự cải nhau, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị và anh B đã sống ly thân. Đối với bị đơn anh B đã được Tòa án thông báo về nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng anh B vắng mặt suốt trong quá trình tống tụng không đưa ra ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy, mục đích hôn nhân là nhằm để xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, các thành viên phải có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, muốn đạt được điều này vợ chồng cùng xây dựng, nhưng chị X không còn tình cảm vợ chồng với anh B và cả hai đã sống ly thân. Từ đó, cho thấy hôn nhân giữa chị X anh B đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Trong thảo luận và nghị án Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị X được ly hôn với anh B.
. Về con chung: Chị Thị X và anh Lê Văn B có với nhau hai người con Lê Trung H, sinh ngày 16/4/2018, hiện đang sống cùng với anh B và Lê Trọng H, sinh ngày 02/9/2020. Chị X xác định hiện tại cháu Trung H đang sống cùng anh B, cháu Trọng H sống cùng với chị và chị đề nghị anh B nuôi cháu Trung H chị nuôi cháu Trọng H. Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình quy định sau khi vợ chồng ly hôn về con chưa thành niên thì do vợ chồng tự thỏa thuận giao cho một bên trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng nếu không thỏa thuận được thì Tòa án căn cứ vào quyền lợi của các con mà giao con cho một bên chăm sóc. Trong suốt quá trình tố tụng anh B vắng mặt không có ý kiến hay yêu cầu gì về việc chăm sóc con nên hội đồng xét xử không có căn cứ để xem xét. Để giữ sự ổn định và phát triển tốt nhất cho con và hiện tại anh B đang trực tiếp nuôi cháu Trung H, chị X trực tiếp nuôi cháu Trọng H nên tiếp tục giao cho mỗi người nuôi một người con như các bên đnag trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chị X không yêu cầu, anh B vắng mặt không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Chị X, anh B có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí: Chị Thị X phải chị án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng. Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị X đã nộp 300.000đ theo Biên lai thu của Cơ quan Thi hành án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39; Điều 144; Điều 147, Điều 228; Điều 235; 266; 271; 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Áp dụng Điều 56; 81; 82; 83; 84; 110; 116; 117 và 118 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử;
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Thị X được ly hôn với anh Lê Văn B.
2. Về quan hệ con chung: Giao cháu Lê Trọng H cho chị Thị X trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Giao cháu Lê Trung H1 cho anh Lê Văn B trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chị X không yêu cầu, anh B vắng mặt không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Chị X, anh B có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Án phí sơ thẩm: Chị Thị X phải chị án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng. Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị X đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0008977, ngày 21 tháng 11 năm 2024 của Cơ quan Thi hành án.
5. Quyền kháng cáo: Chị Thị X, anh Lê Văn B vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung./. \
| Nơi nhận: - TAND tỉnh KG; - VKSND huyện GR; - CCTHADS huyện GR; - UBND xã; - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mỹ Nhiên |