vanban.org

Bản án 205/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Long An Tuyên án 06/12/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 06/12/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh Th "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luậ…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 205/2022/HS-PT
Ngày: 06-12-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Thiện Tâm

Các Thẩm phán:

Bà Huỳnh Thị Phượng

Ông Dương Ngọc Thành

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Phương Thảo – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 12 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 160/2022/TLPT-HS ngày 18 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo Nguyễn Thanh Th. Do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh Th đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2022/HS-ST ngày 23 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An.

- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Thanh Th, sinh ngày 06-10-1991 tại Long An. Nơi đăng ký thường trú: Ấp ĐB, xã Tân Hòa, huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An; chỗ ở hiện nay: Ấp XT, xã Tân Bình, huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1956 và bà Triệu Thị Q, sinh năm 1966; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17-02-2022 cho đến nay. (Có mặt tại phiên tòa)

Những người tham gia tố tụng không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị, không triệu tập:

- Người bị hại: Ông Lưu Văn D, sinh năm 1981 (đã chết)

- Người đại diện hợp pháp của người bị hại: Bà Cao Thị Nh, sinh năm 1946 (mẹ ruột ông D). Địa chỉ: Ấp KC, xã Nhơn Hòa, huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1956.

2. Bà Triệu Thị Q, sinh năm 1966.

Cùng địa chỉ: Ấp XT, xã Tân Bình, huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An.

3. Ông Hồ Văn H, sinh năm 1970. Địa chỉ: Khu phố VH, phường PM, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

4. Chị Nguyễn Thị Mộng C, sinh năm 1974. Địa chỉ: 353/6A, Khu phố HX, thị trấn TV, huyện Châu Thành, tỉnh Long An.

5. Chị Nguyễn Thị Y, sinh năm 1976. Địa chỉ: Ấp 1, xã TT, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An.

6. Anh Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1978. Địa chỉ: Ấp 2, xã TT, huyện Cần Đước, tỉnh Long An.

7. Ông Nguyễn Thành L, sinh năm 1954;

8. Chị Nguyễn Thị Th1, sinh năm 1976;

9. Chị Nguyễn Thị Mộng T2, sinh năm 1981;

10. Anh Nguyễn Thành T3, sinh năm 1984;

11. Chị Nguyễn Thị Mỵ N, sinh năm 1986.

Cùng địa chỉ: Ấp CT, xã Kiến Bình, huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 08-12-2021, Nguyễn Thanh Th, Đặng Quốc T1, Lý Phi L tổ chức uống rượu tại nhà T1, thuộc Khu phố 5, thị trấn Tân Thạnh, huyện Tân Thạnh. Do hết rượu, nên Th đi mua thêm 01 lít rượu đem lại nhà ông T1 để tiếp tục uống, khi Th quay lại thì L đã đi về nhà của L. Th ngồi nói chuyện với ông T1 đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, thì Th điều khiển xe mô tô, biển số 62E1- 001.38 mang theo rượu và bánh xèo đi đến nhà L tiếp tục rủ L uống rượu nhưng L từ chối, Th ngồi nói chuyện với L đến khoảng 19 giờ cùng ngày, thì điều khiển xe ra về. Lúc này, trời đã tối Th điều khiển xe mô tô, biển số 62E1- 001.38, xe không có đèn chiếu sáng phía trước mang theo 01 lít rượu đựng trong bọc nylong và bánh xèo đựng trong bịch nylong treo trên móc tự chế phía trước đầu xe lưu thông trên đường lộ đá Bắc Đông theo hướng từ thị trấn Tân Thạnh về xã Tân Bình, huyện Tân Thạnh. Khi Th điều khiển xe mô tô lưu thông đi cách nhà L khoảng 150 mét do Th điều khiển xe đi bên trái đường theo hướng đi nên va chạm vào xe mô tô, biển số 72K1- 6447 do Lưu Văn D điều khiển, xe có đèn chiếu sáng phía trước lưu thông đúng phần đường quy định theo hướng ngược lại. Hậu quả Lưu Văn D tử vong tại chỗ. Sau khi xảy ra tai nạn, Th đi bộ lại nhà L thông báo cho L biết vụ tai nạn và nhờ L đến cùng hỗ trợ đưa nạn nhân đi cấp cứu. Lúc này, Th nghe L nói là nạn nhân đã tử vong, do lo sợ người nhà của nạn nhân đến đánh nên Th chạy vào ruộng tràm gần hiện trường nơi xảy ra tai nạn và điện thoại cho cha ruột là ông Nguyễn Thanh T đến rước. Sau đó, Th đến Cơ quan cảnh sát điều tra trình báo sự việc.

Tại Bản Kết luận Giám định pháp y về tử thi số 1042/2021/KLGĐ ngày 03-01-2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Long An kết luận: Nguyên nhân chết của nạn nhân Lưu Văn D là do suy hô hấp cấp do chấn thương ngực gây dập phổi/thiếu máu cơ tim.

Tại Bản Kết luận Giám định pháp y về mô bệnh số 04.526/MBH - 21 ngày 27-12-2021 của Trung tâm Pháp y Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Thiếu máu cơ tim; Dập phổi; Viêm mạn niêm mạc dạ dày.

Tại Bản Kết luận Giám định pháp y về hóa pháp số HST 845/ĐC.2021 ngày 21-12-2021 của Trung tâm Pháp y Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Mẫu máu của nạn nhân Lưu Văn D Nồng độ Ethanol là 305,82mg/100ml.

Tại Bản Kết luận Giám định pháp y về hóa pháp số HST 846/ĐC.2021 ngày 21-12-2021 của Trung tâm Pháp y Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Mẫu máu của Nguyễn Thanh Th Nồng độ Ethanol là 182,41mg/100ml.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2022/HS-ST ngày 23 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An, đã xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh Th phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 260; các điểm b và s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 và khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Thanh Th 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, tuyên về xử lý vật chứng, về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 06 tháng 9 năm 2022, bị cáo Nguyễn Thanh Th kháng cáo xin được hưởng án treo và xin giảm tiền bồi thường.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thanh Th rút một phần kháng cáo. Cụ thể, bị cáo kháng cáo xin được án treo, không kháng cáo về phần trách nhiệm dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Bị cáo Th kháng cáo đúng thời hạn và đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên vụ án đủ điều kiện để xem xét lại theo thủ tục phúc thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo rút kháng cáo về trách nhiệm dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần bị cáo rút kháng cáo.

Về nội dung: Quá các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và xét hỏi tại phiên tòa phúc thẩm. Xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Thanh Th phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng pháp luật và mức hình phạt đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp. Bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo, nhưng chỉ có cung cấp thêm “Đơn xác nhận hoàn cảnh khó khăn” là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự không đáng kể. Căn cứ vào quy định của pháp luật bị cáo không đủ điều kiện để được hưởng án treo, nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Th.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bị cáo không tranh luận.

Lời nói sau cùng: Bị cáo mong được Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo, để bị cáo có điều kiện chăm lo cho cha mẹ già có hoàn cảnh gia đình khó khăn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị cáo Nguyễn Thanh Th kháng cáo đúng theo quy định của pháp luật tại các Điều 331, 332 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, nên được chấp nhận để xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Th rút kháng cáo về trách nhiệm dân sự là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 342 Bộ luật Tố tụng hình sự, nên Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo về trách nhiệm dân sự của bị cáo Th.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Th khai nhận: Bị cáo có giấy phép lái xe theo quy định. Sau khi đã có uống rượu, khoảng 19 giờ ngày 08-12-2021, bị cáo Th điều khiển xe mô tô biển số 62E1- 001.38 (xe không có đèn chiếu sáng phía trước) lưu thông phần đường bên trái, trên đường lộ đá Bắc Đông theo hướng từ thị trấn Tân Thạnh về xã Tân Bình, huyện Tân Thạnh nên gây tai nạn giao thông với xe mô tô biển số 72K1- 6447 do ông Lưu Văn D điều khiển, xe có đèn chiếu sáng phía trước, lưu thông đúng phần đường quy định theo hướng ngược lại. Hậu quả, làm cho ông Lưu Văn D tử vong tại chỗ. Xét, lời khai nhận của bị cáo Th phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà nội dung án sơ thẩm đã nêu. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bố bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự, là xét xử đúng người, đúng tội.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo Th thấy rằng: Qua xem xét tính chất, mức độ hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo, để tuyên phạt bị cáo với mức án như trên là thỏa đáng. Tuy bị cáo kháng cáo có cung cấp thêm tình tiết để xem xét giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đó là “Đơn xác nhận hoàn cảnh khó khăn” nhưng là tình tiết giảm nhẹ không đáng kể. Xét thấy, đối với loại tội phạm “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, do người điều khiển phương tiện giao thông có nồng độ cồn gây ra đang ngày càng gia tăng trên địa bàn tỉnh Long An cũng như cả nước nói chung, nên việc cho bị cáo được hưởng án treo sẽ không đáp ứng được công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Vì vậy không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

[4] Từ những phân tích trên, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh Th, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa.

[5] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thanh Th phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo không được chấp nhận.

[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh Th về phần trách nhiệm dân sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh Th về phần hình phạt. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2022/HS-ST ngày 23 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thanh Th.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh Th phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 260; các điểm b và s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 và khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Th 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.

2. Về án phí: Áp dụng các Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Nguyễn Thanh Th phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ