vanban.org

Bản án 205/2022/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Bình Định Tuyên án 23/12/2022 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 23/12/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của ông Hồ Quốc D. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 113/2022/DS-ST ngày 31/08/2022 của Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định.

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Quốc D. Xác định ranh giới giữa thửa đất 756 và thửa đất 757 tờ bản đồ số 15 tọa lạc ở xã NH là đoạn thẳng DC từ Bắc sang Nam (có sơ đồ kèm theo), giao cho ông Ngh, bà M tiếp tục sử dụng phần đất lấn chiếm có diện tích là 12m2, giữ nguyên hiện trạng cá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Nguyên đơn Hồ Quốc Doanh - bị đơn Phan Văn Nghi"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của ông Hồ Quốc D. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 113/2022/DS-ST ngày 31/08/2022 của Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định.
  • Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 29 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 205/2022/DS-PT
Ngày: 23/12/2022
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Công Phương.

Các Thẩm phán:

Bà Võ Thị Hồng Thu.

Ông Nguyễn Văn Hiệp.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Cường là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Lữ Thị Xuân Dương-Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 174/2022/TLPT-DS ngày 10 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp quyền sử dụng đất.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 113/2022/DS-ST ngày 31 tháng 08 năm 2022 của Tòa án nhân dân thị xã AN bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 234/2022/QĐ-PT ngày 05 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Hồ Quốc D; cư trú tại: Thôn TB, xã NH, thị xã AN, tỉnh BĐ; có mặt.

- Bị đơn: Ông Phan Văn Ngh; cư trú tại: Thôn LT, xã NH, thị xã AN, tỉnh BĐ; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị S; cư trú tại: Thôn TB, xã NH, thị xã AN, tỉnh BĐ; vắng mặt.

2. Bà Hồ Thị M; Thôn LT, xã NH, thị xã AN, tỉnh BĐ; có mặt.

- Người kháng cáo: Ông Hồ Quốc D là nguyên đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn ông Hồ Quốc D trình bày:

Thửa đất số 757, tờ bản đồ số 15, diện tích 121,5m2 tọa lạc tại thôn LT, xã NH, thị xã AN, tỉnh BĐ được UBND huyện AN (nay là thị xã AN) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH00108 ngày 17/3/2011 đứng tên ông Hồ Quốc D và bà Nguyễn Thị S. Nguồn gốc của thửa đất trên do vợ chồng ông đấu giá và được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất. Thửa đất có tứ cận: Phía Bắc giáp đường ĐT 631, phía Nam giáp thửa đất số 40, phía Đông giáp thửa đất số 756 của vợ chồng Ngh

- bà M, phía Tây giáp thửa đất số 758 của bà Nguyễn Thị Tuyết M. Phần ranh giới phía Tây, Bắc, Nam không tranh chấp, Phía Đông của thửa đất mà vợ chồng ông đang sử dụng giáp với thửa đất do vợ chồng ông Ngh đang sử dụng. Chiều rộng mặt trước và mặt sau của các thửa đất số 756 và 757 là 4,5m, ông xác định ranh giới giữa 02 thửa đất là đường thẳng kéo dài cách vách tường nhà của vợ chồng ông Ngh về phía Đông là 0,5m chiều dài hết thửa đất với diện tích là 12,4m2.

Năm 1996 ông biết vợ chồng ông Ngh xây dựng nhà nhưng lúc đó ông không biết xây dựng lấn sang phần đất của ông, sau này ông mới biết. Nay ông yêu cầu ông Ngh - bà M phải tháo dỡ phần nhà đã xây dựng trên phần đất thuộc quyền sử dụng của vợ chồng ông trả lại phần diện tích đất đã lấn chiếm.

Bị đơn ông Phan Văn Ngh trình bày:

Thống nhất toàn bộ như lời trình bày của ông D về nguồn gốc thửa đất và giới cận của các thửa đất. Thửa đất mà vợ chồng ông đang sử dụng được giao đất theo Quyết định giao đất số 228/QĐ-UB ngày 04/3/1996 của UBND huyện (nay là thị xã) AN, thửa số 40, tờ bản đồ số 15 nay là thửa đất số 756, tờ bản đồ số 15, diện tích 121,5m2 với chiều dài 27m, chiều rộng 4,5m, toạ lạc tại xã NH. Vợ chồng ông vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất này. Năm 1996, vợ chồng ông xây nhà trên thửa đất. Phía Tây giáp thửa đất số 757 của vợ chồng ông D. Trong quá trình giao đất với chiều rộng thực tế là 05m chứ không phải 4,5m như trong hồ sơ cấp đất. Ông có khiếu nại nhưng cán bộ địa chính giải thích do chính sách đất đai tại thời điểm đó nên chỉ công nhận phần chiều rộng là 4,5m. Sau này qua nhiều năm sử dụng, ông không khiếu nại nữa và sử dụng ổn định đến khi ông D có tranh chấp. Thời điểm ông xây nhà, Phòng Địa chính có duyệt sơ đồ lô đất dự định xin xây dựng nhà ở của ông. Nay ông xác định ranh giới phía Tây theo vách tường nhà của ông như hiện trạng nên ông không chấp nhận yêu cầu của ông D về việc trả lại 12,4m2 đất.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bà Nguyễn Thị S trình bày:

Giữa bà và ông Hồ Quốc D quan hệ là vợ chồng, bà thống nhất toàn bộ như lời trình bày của ông D về nguồn gốc hai thửa đất và giới cận của các thửa đất, cũng như quá trình vợ chồng ông Ngh xây dựng nhà và diện tích đất lấn chiếm. Nay bà xác định ranh giới giữa 02 thửa đất là đường thẳng kéo dài cách vách tường nhà của vợ chồng ông Ngh về phía Đông là 0,5m chiều dài hết thửa đất. Nay bà yêu cầu ông Nghị, bà M phải tháo dỡ phần nhà đã xây dựng trên phần đất thuộc quyền sử dụng của vợ chồng bà để trả lại 12,4m2 đất đã lấn chiếm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bà Hồ Thị M trình bày:

Ông Phan Văn Nghị là chồng của bà, còn ông Hồ Quốc D là anh trai của bà. Bà thống nhất toàn bộ như lời trình bày của ông Nghị về nguồn gốc hai thửa đất và giới cận của các thửa đất, quá trình cấp đất và xây dựng. Nhà vợ chồng bà xây năm 1996 kết cấu nhà như biên bản thẩm định, bà xác định ranh giới giữa hai thửa đất này theo vách tường nhà của bà như hiện trạng. Nay bà không chấp nhận yêu cầu của ông D về việc trả lại 12,4m2 đất.

Bản án dân sự sơ thẩm số: 113/2022/DS-ST ngày 31/08/2022 của Tòa án nhân dân thị xã AN đã quyết định:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Quốc D. Xác định ranh giới giữa thửa đất 756 và thửa đất 757 tờ bản đồ số 15 tọa lạc ở xã NH là đoạn thẳng DC từ Bắc sang Nam (có sơ đồ kèm theo), giao cho ông Ngh, bà M tiếp tục sử dụng phần đất lấn chiếm có diện tích là 12m2, giữ nguyên hiện trạng các thửa đất. Buộc ông Ngh, bà M phải thanh toán cho ông D, bà S là 78.000.000 đồng. Không chấp nhận yêu cầu của ông D về việc buộc ông Ngh, bà M phải tháo dỡ công trình trên phần đất lấn chiếm để trả lại diện tích đất lấn chiếm.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của các bên đương sự.

Ngày 14/9/2022 ông Hồ Quốc D kháng cáo một phần bản án. Yêu cầu cấp phúc thẩm buộc vợ chồng ông Phan Văn Ngh, bà Hồ Thị M phải tháo dỡ phần công trình xây dựng trên phần đất lấn chiếm, trả lại cho vợ chồng ông 12m2 đất. Vợ chồng ông không đồng ý nhận giá trị bồi thường bằng tiền.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về Tố tụng: Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của ông Hồ Quốc Doanh, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Xét kháng cáo của ông Hồ Quốc D, HĐXX thấy rằng: Cấp sơ thẩm buộc vợ chồng ông Phan Văn Ngh, bà Hồ Thị M phải bồi thường giá trị quyền sử dụng 12m2 đất cho vợ chồng ông Hồ Quốc D, bà Nguyễn Thị S bằng tiền, mà không buộc vợ chồng ông Ngh, bà M phải tháo dỡ phần công trình xây dựng trên đất để trả lại đất cho vợ chồng ông D, bà S là có cơ sở, bởi lẽ: Sau khi nhận đất đến năm 1996 thì vợ chồng ông Ngh, bà M đã tiến hành xây dựng nhà ở, cho đến nay đã 26 năm, nhà của vợ chồng ông Ngh, bà M thuộc loại công trình kiên cố, có kết cấu móng đá chẻ, 04 trụ bê tông cốt thép, tường xây gạch nên việc tháo dỡ phần công trình xây dựng trên đất lấn chiếm rất khó khăn, không khả thi và nếu tháo dỡ sẽ phá vỡ kết cấu của công trình xây dựng, làm mất an toàn trong quá trình tháo dỡ và việc tiếp tục sử dụng phần công trình xây dựng còn lại sau này. Hơn nữa, giá trị bồi thường đất là theo giá trị thị trường tại thời điểm hiện nay nên đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp cho vợ chồng ông D, bà S.

Từ phân tích nêu trên, xét thấy kháng cáo của ông Hồ Quốc D là không có căn cứ nên không được HĐXX chấp nhận. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm. Những quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Hồ Quốc D phải chịu 300.000 đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV.

Ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân thủ pháp luật của những người tiến hành tố tụng, tham gia tố tụng tại cấp phúc thẩm cũng như về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV.

Tuyên xử:

Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của ông Hồ Quốc D. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 113/2022/DS-ST ngày 31/08/2022 của Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định.

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Quốc D. Xác định ranh giới giữa thửa đất 756 và thửa đất 757 tờ bản đồ số 15 tọa lạc ở xã NH là đoạn thẳng DC từ Bắc sang Nam (có sơ đồ kèm theo), giao cho ông Ngh, bà M tiếp tục sử dụng phần đất lấn chiếm có diện tích là 12m2, giữ nguyên hiện trạng các thửa đất. Buộc ông Phan Văn Ngh, bà Hồ Thị M phải thanh toán cho ông Hồ Quốc D, bà Nguyễn Thị S 78.000.000 đồng. Không chấp nhận yêu cầu của ông Hồ Quốc D về việc buộc vợ chồng ông Phan Văn Ngh, bà Hồ Thị M phải tháo dỡ phần công trình trên phần đất lấn chiếm để trả lại diện tích đất lấn chiếm.

2. Về án phí, chi phí tố tụng khác:

2.1 Án phí:

- Án phí dân sự sơ thẩm: Vợ chồng ông Phan Văn Ngh, bà Hồ Thị M phải nộp 300.000 đồng. Hoàn trả cho ông Hồ Quốc D 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp, theo Biên lai thu tiền số: 0005056 ngày 29/12/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã An Nhơn.

- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Hồ Quốc D phải chịu 300.000 đồng, nhưng được trừ khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp, theo Biên lai thu tiền số: 0005340 ngày 14/9/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã AN.

2.2 Chi phí tố tụng khác: Vợ chồng ông Phan Văn Ngh, bà Hồ Thị M phải hoàn trả lại cho ông Hồ Quốc D 3.000.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.

3. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành, theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ