- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn H "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đ…"
- Tòa quyết gì? [1] Xử phạt bị cáo Nguyễn H 01 (một) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm, thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án sơ thẩm 24/9/2021.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 205/2021/HS-ST Ngày: 24/9/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ - TỈNH TT HUẾ
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thúc Mỹ.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Bà Hoàng Thị Lan Phương.
2. Ông Nguyễn Hữu Trực.
Thư ký phiên tòa: Nguyễn Vũ Quang, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Huế.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Duy Minh, Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 9 năm 2021, tại Tòa án nhân dân thành phố Huế (60 Nguyễn Huệ, phường Vĩnh Ninh, thành phố Huế) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 183/2021/HSST ngày 29 tháng 7 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 195/2021/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo:
Nguyễn H (tên gọi khác: Nhỏ), sinh ngày: 01/3/1972 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: 1 kiệt 114 đường A, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Xe thồ; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Phật giáo; con ông Nguyễn Tr (đã chết) và bà Lê Thị S (đã chết); có vợ: Nguyễn Thị U, sinh năm 1988; có 03 con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2021.
Quá trình nhân thân: Lúc nhỏ ở với cha mẹ tại thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, đi học hết lớp 6/12 thì nghỉ học ở nhà phụ giúp gia đình.
Ngày 11/6/1991, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 18 tháng tù về hai tội “Trộm cắp tài sản XHCN” và “Trộm cắp tài sản công dân” (Bản án số 39/HSST/1991).
Năm 1993, bị Tòa án nhân dân thị xã P, tỉnh G xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân”.
Ngày 12/3/1995, trong khi thi hành án đã trốn khỏi nơi giam giữ. Ngày 20/3/1995, phạm tội “Trộm cắp tài sản công dân” thì bị bắt. Ngày 28/5/1995, bị Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân”, 01 năm tù về tội “Trốn khỏi nơi giam giữ”, cộng với bản án năm 1993 chưa thi hành xong, tổng cộng hình phạt chung là 05 năm 11 tháng 26 ngày tù (Bản án số 60/HS-ST/1995).
Ngày 28/8/2003, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 42 tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản” (Bản án số 83/HSST).
Ngày 19/11/2007, bị Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” (Bản án số 82/2007/HSPT).
Ngày 11/9/2013, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 223/2013/HSST)
Ngày 07/6/2015, chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương cho đến ngày phạm tội.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 07/4/2021 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Đại diện hợp pháp bị hại (bà Phạm Thị Bính) đã chết:
1. Ông Trần Quý Tưởng, sinh năm 1943; trú tại: 3/47 Lương Văn Can, phường An Cựu, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
2. Anh Trần Văn Vĩnh, sinh năm 1976; trú tại: 3/47 Lương Văn Can, phường An Cựu, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
3. Anh Trần Thị Thuận, sinh năm 1972; trú tại: Kiệt 22 Tản Đà, phường Hương Vinh, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
4. Anh Trần Văn Ngự, sinh năm 1979; trú tại: 3/47 Lương Văn Can, phường An Cựu, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
5. Chị Trần Thị Hòa, sinh năm 1973; trú tại: 89 Địa Linh, phường Hương Vinh, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
6. Chị Trần Thị Bình, sinh năm 1975; trú tại: 10/66 Lê Lợi, phường Phú Hội, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
7. Anh Trần Văn Niệm, sinh năm 1971; trú tại: 3/47 Lương Văn Can, phường An Cựu, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
- Người làm chứng: Chị Trương Thị Hồng, sinh năm 1985; trú tại: 38B Thiên Thai, phường An Tây, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 17/02/2021, Nguyễn H (làm nghề lái xe thồ) có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 75B1-295.90 chở một người khách (không rõ lai lịch, địa chỉ) từ bến xe phía Nam ra bến xe phía Bắc, thành phố Huế, chạy trên các tuyến đường An Dương Vương- H Vương - Hà Nội hướng về cầu Phú Xuân. Khi đến giao lộ (ngã 6) các đường Hà Nội - Lý Thường Kiệt - Hoàng Hoa Thám - Ngô Quyền
- Nguyễn Tri Phương, thuộc phường Vĩnh Ninh, thành phố Huế thì H phát hiện xe mô tô biển kiểm soát 75F3-6197 do bà Phạm Thị Bính (sinh năm: 1952; trú tại: số 03 kiệt 47 đường Lương Văn Can, phường An Cựu, thành phố Huế) không có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển đi trên đường Lý Thường Kiệt, theo hướng từ đường Đống Đa đến đường Hoàng Hoa Thám, nhưng H không giảm tốc độ nên để mặt lăn bánh trước của xe mô tô biển kiểm soát 75B1-295.90 do H điều khiển va chạm vào mặt ngoài may-ơ bánh trước bên phải của xe mô tô biển kiểm soát 75F3-6197 do bà Bính điều khiển gây ra tai nạn giao thông. Sau khi xảy ra tai nạn H và người khách cùng đưa bà Bính đi cấp cứu tại Bệnh viện Trung Ương Huế.
Hậu quả: Bà Phạm Thị Bính chết lúc 10 giờ ngày 17/02/2021. Nguyễn H bị xây xát nhẹ; người khách không bị thương tích gì. Hai xe mô tô bị hư hỏng.
* Vật chứng thu giữ:
- 01 (Một) xe mô tô, loại ATILA màu vàng, biển kiểm soát 75B1-295.90, số máy: BAD-001886, số khung: D8D-001886, đã qua sử dụng.
- 01 (Một) giấy phép lái xe mô tô hạng A1 mang tên Nguyễn H.
- 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Supper Dream, màu nâu, biển kiểm soát 75F3-6197, số máy: HA05E0127390, số khung: HA0602XY127382, đã qua sử dụng.
* Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 299-20/TT ngày 07/01/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Thừa Thiên Huế đã giám định và kết luận nguyên nhân chết của bà Phạm Thị Bính:
1. Chuẩn đoán pháp y: đa chấn thương nặng toàn thân (chấn thương sọ não, chấn thương gẫy sập xương lồng ngực – dập phổi lan rộng) không đáp ứng điều trị ngoại khoa và không đáp ứng hồi sức nội khoa…gây chết.
Các tổn thương trên cơ thể trải dài từ đầu xuống tay phù hợp lực va chạm với diện rộng (ngã truồi trên mặt đường) gây ra. Chấn thương ngực kín gãy nhiều xương sườn – dập phổi lan rộng do vật tày nặng đè ép (phương tiện xe đè lên) gây ra.
2. Nguyên nhân chết: đa chấn thương nặng toàn thân do tai nạn giao thông.
Về hiện trường: Căn cứ biên bản khám nghiệm hiện trường, thì hiện trường vụ tai nạn được xác định như sau: Đoạn đường xảy ra tai nạn là đoạn đường được làm bằng nhựa đường, phẳng và là nơi giao nhau của nhiều đường (ngã 6), các đường đều có cột đèn tín hiệu và có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ qua đường. Các đường giao nhau với đường Hà Nội đều có biển báo “giao nhau với đường ưu tiên”. Đường Hà Nội rộng 14m50, đường Lý Thường Kiệt rộng 14m00. Tại thời điểm xảy ra tai nạn hệ thống đèn tín hiệu không hoạt động. Chọn trụ đèn 33 làm mốc, mép bên phải đường Hà Nội theo hướng ngã 6 đến cầu Phú Xuân (nơi tiếp giáp với đường Nguyễn Tri Phương và đường Hoàng Hoa Thám), kéo một đường thẳng theo mép đường Hà Nội (a), mép đường bên phải đường Lý Thường Kiệt kéo một đường thẳng nối với mép bên phải đường Hoàng Hoa Thám (b) chọn làm chuẩn để khám nghiệm hiện trường. Từ mốc kéo đường thẳng dài 2m80 vuông góc với đường Hà Nội, từ đó hướng cầu Phú Xuân cách 25m00 là điểm đầu vết cày đường (1) dài 8m45; điểm đầu (1) cách mép bên phải đường Hà Nội 1m20, điểm cuối (1) trùng với gác chân trước bên phải xe mô tô 75F3-6197 (5) đang ngã nghiêng bên phải ; đầu xe mô tô 75F3-6197 quay phải, đuôi xe mô tô 75F3-6197 quay trái; trục bánh trước xe mô tô 75F3-6197 cách mép đường (b) 3m50 và hướng vào mép đường (a) cách 0m6-0, trục sau xe mô tô 75F3-6197 cách mép (a) 0m40. Từ điểm đầu (1) chếch phải cách 1m25 là điểm đầu vết cày đường (2) dài 7m60; điểm đầu (2) cách mép đường (a) 0m05, điểm cuối (2) trùng với gác chân chống bên trái xe mô tô 75B1-295.90 đang ngã nghiêng bên trái; Đầu xe mô tô 75B1-295.90 quay trái hướng cầu Phú Xuân, đuôi 75B1-295.90 quay phải hưỡng ngã 6 (nhà văn hóa). Trục bánh trước xe môt 75B1-295.90 cách mép đường (a) 2m60, trục bánh sau xe mô tô 75B1-295.90 cách mép đường (b) 0m90 và cách mép đường (a) 3m30. Từ trục bánh trước xe mô tô 75B1-295.90 hướng ngã 6 (nhà văn hóa) cách 1m50 là vị trí tâm đám máu có kích thước 1m10 x 0m25; tâm đám máu cách mép đường (a) 1m80. Trục bánh trước xe mô tô 75B1-295.90 cách trục bánh trước xe mô tô 75F3-6197 là 2m55.
Về phương tiện: Xe mô tô 75B1-29590 sau tai nạn: Mặt trái lốp trước bị chà xước làm sạch bụi làm mới cao su, kích thước 9cm x1cm. Đĩa phanh trước bị cong lệch từ trái qua phải bị chà xướt làm mới kim loại, kích thước 10cm x 2cm, phuộc trước bên trái bị chà xước làm mới kim loại kích thước 1,5cm x 1,7cm, nhựa ốp sườn trước bên trái bị chà xước làm sơ mới nhựa, kích thước 43cm x 3cm, ốp gầm xe dưới gác chân sau bên trái bị nứt vở bung rời khỏi vị trái ban đầu. Mặt ngoài chân chống giữa bên phải bị trầy xước làm sáng kim, loại kích 12cm x 1cm. Đầu mút chân chống bị trầy xước làm mới kim loại, kích thước 1cm x 0,3cm. Đầu mút chân khởi động bị trầy xước làm mới kim loại, kích thước 0,3cm x x0,3cm. Đầu mút tay phanh bên trái bị gãy rời khỏi vị trí ban đầu, mặt ngoài nắm tay lái phía bên trái có dấu vết bày bám dính chất màu đen, kích thước 10cm x 4cm, ốp viền bảo vệ đèn phía trước bên trái cong kích thước 10cm x 0,5cm, phần phía sau đèn chiếu sáng bên trái bị gãy vở, kích thước 12cm, điểm gần nhất nằm ngang mép đèn chuyển hướng bên trái. Công tắc đèn chiếu sáng ban đầu ở vị trí bên phải không bật, công tắc đèn tín hiệu ở vị trí giữa không bật.
Xe ô tô 75F3-6197 sau tai nạn: Mặt ngoài giỏ xe bên phải bị trầy xước cong móp ngoài vào trong, phải sang trái, trước ra sau, kích thước 14cm x 12cm, mặt ngoài may ơ bánh trước bên phải có vết chà dính chất màu đen, kích thước 15cm x 5cm, mặt ngoài tăm xe bánh trước bên phải có vết chà dính chất màu đen làm sạch bụi đồng thời bị cong móp lún từ ngoài vào trong, từ phải sang trái, mặt ngoài phía dưới phuộc phải có vết chà xước làm mới kim loại, kích thước 1cm x 0,5cm, phần giữa mang bên phải bị gãy vở kích thước 10cm, vùng gãy vở cách mặt đất 53cm, mặt ngoài nắm tay điều khiển bên phải bị chà làm mới cao su, kích thuowcs3,5cm x 3,5cm, đầu mút gác chân bên phải có vết chà xát làm mới kim loại kích thước 2cm x 2cm, công tắc đèn chiếu sáng ban đêm ở vị trí bên phải (vị trí có dấu chấm, không bật đèn), đèn tín hiệu ở vị trí giữa (không bật).
* Tại kết luận giám định số 87/GĐ ngày 12/3/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thừa Thiên Huế kết luận:
Giữa xe ô tô biển kiểm soát 75B1-295.90 và xe mô tô biển kiểm soát 75F3-6197 có xảy ra va chạm.
Vùng chạm đầu tiên giữa hai phương tiện nêu trên là mặt lăn và má lốp trước, mép ngoài đĩa phanh, ốp trên tay lái với các chi tiết bên phải xe mô tô biển kiểm soát 75F3-6197, gồm mặt ngoài may – ơ bánh trước, mặt ngoài đầu mút phía dưới giảm xóc trước, mặt ngoài và mặt sau đầu mút tay ga, phù hợp cơ chế va chạm theo chiều hướng từ trước ra sau xe mô tô biển kiểm soát 75B1-295.90 và từ phải sang trái xe mô tô biển kiểm soát 75F3-6197.
Từ kết quả khám nghiệm hiện trường, khám phương tiện, kết luận giám định có thể xác định phía trước bên trái xe mô tô 75B1-295.90 va chạm vào phía trước bên phải xe ô tô 75F3-6197.
* Tại Bản kết luận định giá tài sản số 69/KL-HĐĐGTS ngày 09/3/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Huế kết luận: 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 75B1-295.90, số máy: BAD-001886, số khung: D8D-001886, loại xe ATILA, màu sơn: vàng, đăng ký ngày 14/3/2014, đã qua sử dụng vào thời điểm bị tai nạn ngày 17/02/2021 thiệt hại 1.431.000 đồng (Một triệu bốn trăm ba mươi mốt nghìn đồng); 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 75F3-6197, số máy: HA05E0127390, số khung: HA0602XY127382, loại xe Honda Supper Dream, màu sơn: nâu, đăng ký ngày 18/4/2000, đã qua sử dụng vào thời điểm bị tai nạn ngày 17/02/2021 thiệt hại 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng).
* Về xử lý vật chứng:
Quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Huế đã ra quyết định xử lý vật chứng số 73 ngày 02/4/2021 trả lại xe mô tô 75B1-295.90 và xe mô tô 75F3-6197 cho chủ sở hữu hợp pháp.
Tiếp tục tạm giữ 01 (một) giấy phép lái xe mô tô hạng A1 mang tên Nguyễn H để phục vụ truy tố và xét xử.
- Về trách nhiệm dân sự: Đại diện gia đình bị hại không yêu cầu Nguyễn H phải bồi thường về mặt dân sự. Tuy nhiên, bị can H vẫn tự nguyện khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại với số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng). Đại diện gia đình bị hại đã nhận số tiền, không có yêu cầu gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Nguyễn H.
Tại bản cáo trạng số 280/CT-VKS-HS, ngày 28/7/2021 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế đã truy tố bị cáo Nguyễn H về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm cáo trạng truy tố; đề nghị áp dụng vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn H từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù về tội " Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ". Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp bị hại không yêu cầu nên không xem xét. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Huế, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện hợp pháp.
Tại phiên toà bị cáo Nguyễn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp khách quan với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản hiện trường vụ án, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận:
Vào khoảng 04 giờ 30 phút ngày 17/02/2021, tại giao lộ đường Hà Nội – Lý Thường Kiệt – Hoàng Hoa Thám – Ngô Quyền – Nguyễn Tri Phương, thuộc phường Vĩnh Ninh, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế, Nguyễn H (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 75B1-295.09 đi trên đường Hà Nội theo hướng từ đường H Vương đến cầu Phú Xuân đã va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 75F3-6197 do bà Phạm Thị Bính (không có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển trên đường Lý Thường Kiệt đến đường Hoàng Hoa Thám gây tai nạn giao thông, hậu quả làm bà Bính chết. Vụ tai nạn giao thông là lỗi của H và bà Phạm Thị Bính.
Lỗi của Nguyễn H là điều khiển xe mô tô không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi qua nơi đường bộ giao nhau cùng mức nên đã vi phạm khoản 1 Điều 12 Luật Giao thông đường bộ và khoản 3 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ Giao thông vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ. Lỗi của bà Phạm Thị Bính là điều khiển xe mô tô không có giấy phép lái xe theo quy định, khi vào đường giao nhau không nhường đường cho xe đến từ đường ưu tiên nên đã vi phạm khoản 9 Điều 8 và khoản 3 Điều 24 Luật Giao thông đường bộ. Như vậy, hành vi của Nguyễn H vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ gây ra hậu quả làm 01 người chết nên đã phạm vào tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế truy tố các bị cáo về hành vi phạm tội như trên là có cơ sở, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, thấy rằng:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác; gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự của hành vi của mình gây ra.
Bị cáo Nguyễn H không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại, khắc phục hậu quả; bị hại có lỗi và đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Nhân thân của bị cáo nhiều lần phạm tội nhưng đã được xóa án tích. Từ 2015 đến nay, bị cáo không vi phạm quy định pháp luật; gia đình bị cáo thuộc trường hợp khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình, có con nhỏ mới sinh năm 2021; bị hại có lỗi là điều khiển xe mô tô không có giấy phép lái xe theo quy định, khi vào đường giao nhau không nhường đường cho xe đến từ đường ưu tiên; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội với lỗi vô ý nên xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Từ những phân tích, đánh giá trên, Hội đồng xét xử xét thấy xử phạt bị cáo Nguyễn H 01 năm tù và cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm từ ngày tuyên án sơ thẩm, là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Trả lại cho bị cáo 01 (Một) giấy phép lái xe mô tô hạng A1 mang tên Nguyễn H. Bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Về án phí: Buộc bị cáo mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
[1] Xử phạt bị cáo Nguyễn H 01 (một) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm, thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án sơ thẩm 24/9/2021.
Giao bị cáo Nguyễn H cho Ủy ban nhân dân phường An Cựu, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án cho hưởng án treo.
[2] Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo 01 (Một) giấy phép lái xe mô tô hạng A1 mang tên Nguyễn H (hiện đang lưu giữ theo hồ sơ vụ án).
[3] Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Bị cáo có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND T nh TT Hu ; - Tư pháp; - VKSND thành phố Hu ; - Công an thành phố Hu ; - Phòng PV 06 Công an t nh TT Hu ; - Chi cục Thi hành án dân sự tp Hu ; - B cáo; đại diện hợp pháp của b hại; - THA HS; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thúc Mỹ |