vanban.org

Bản án 205/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Minh T đối với ông Đinh Ngọc C về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Minh T được ly hôn với ông Đinh Ngọc C . (Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 37/2015 ngày 01/4/2015 đăng ký tại UBND phường Hòa Thọ Đông, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Minh T và ông Đinh Ngọc c"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Minh T đối với ông Đinh Ngọc C về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN CẨM LỆ - TP ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 205/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 15-7-2020
v/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thanh Tuyền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Đức Hiếu

Bà Nguyễn Thị Vinh

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ánh Nguyệt là thư ký của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng: Bà Trần Lê Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 7 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 03/2020/TLST-HNGĐ, ngày 07 tháng 01 năm 2020 về việc: “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2020/QĐXXST-HNGĐ 17 tháng 6 năm 2020 giữa:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Minh T - Sinh năm 1987

Địa chỉ: Số 131A đường T1, quận H, thành phố Đà Nẵng (Có mặt).

2. Bị đơn: Ông Đinh Ngọc C - Sinh năm 1986.

Nơi ĐKNKTT: Tổ 62 phường Hòa Thọ Đông, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng (Vắng mặt lần thứ hai, không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện đề ngày 09/11/2019, bảng tự khai đề ngày 12/6/2020, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Minh T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Đinh Ngọc C tự nguyện kết hôn vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Hòa Thọ Đông, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Sau khi kết hôn,vợ chồng chung sống tại địa chỉ số Số 131A đường T1, quận H, thành phố Đà Nẵng. Trong thời gian chung sống vợ chồng bà phát sinh mâu thuẫn vào tháng 4/2018. Nguyên nhân là bà phát hiện ông C có mối quan hệ yêu đương với người phụ nữ khác. Ngoài ra trong quá trình chung sống, ông C thường xuyên đi sớm về khuya, không quan tâm và không có trách nhiệm với gia đình, vợ con. Vợ chồng bà đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Bà xác định mâu thuẫn giữa vợ chồng không khắc phục được, vợ chồng không còn tình cảm nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Đinh Ngọc C .

Về con chung: Vợ chồng bà có 01 con chung là cháu Đinh Ngọc V- Sinh ngày: 07/11/2015. Ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Vvà không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà T xác định vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà T xác định vợ chồng không có.

Đối với bị đơn ông Đinh Ngọc C : Tòa án đã thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng về việc thụ lý vụ án; thông báo về thời gian mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thời gian xét xử nhưng ông C vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Minh T.

* Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng trình tự quy định của pháp luật. Đối với các đương sự: Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Quan điểm giải quyết vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Minh T đối với ông Đinh Ngọc C .

Về nuôi con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu Đinh Ngọc V- Sinh ngày: 07/11/2015 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con, bà T không yêu cầu nên không xem xét.

Về tài sản chung: Bà T xác định vợ chồng không có nên đề nghị HĐXX không xem xét.

Về nợ chung: Bà T xác định vợ chồng không có nên đề nghị HĐXX không xem xét.

Về án phí: Bà T phải chịu án phí HNGĐ sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo đơn khởi kiện đề ngày 09/11/2019 thì nguyên đơn khởi kiện đối với ông C để xin ly hôn và nuôi con, không có tài sản chung và nợ chung. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình, quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

[1.2] Bị đơn ông Đinh Ngọc C đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông C .

Về nội dung.

Về quan hệ hôn nhân:

Bà Nguyễn Thị Minh T và ông Đinh Ngọc C tự nguyện kết hôn vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Hòa Thọ Đông, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 37/2015 ngày 01/4/2015. Do đó, hôn nhân giữa ông C và bà T là hợp pháp, được nhà nước công nhận và bảo vệ. Xét yêu cầu ly hôn của bà T, HĐXX nhận thấy: sau khoảng thời gian sống chung vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông C không quan tâm và không có trách nhiệm với gia đình, vợ con, vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau. Do đó, vợ chồng ông C và bà T đã sống ly thân từ tháng 4/2018 cho đến nay. Trong quá trình thụ lý, giải quyết yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Minh T, theo xác minh ở địa phượng nơi vợ chồng ông C và bà T sinh sống thì vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 4/2018 cho đến nay, hơn nữa theo xác minh ở địa phương nơi ông C đăng ký hộ khẩu thường trú thì gia đình ông C đã bán nhà đi từ năm 2015. Do đó, Tòa án đã thực hiện thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng yêu cầu ông Đinh Ngọc C về giải quyết việc ly hôn với bà Nguyễn Thị Minh T nhưng ông Đinh Ngọc C vẫn không về và không có liên lạc gì. Việc ông Đinh Ngọc C bỏ đi khỏi địa phương và cắt đứt mọi thông tin liên lạc với bà Nguyễn Thị Minh T thể hiện ông C không quan tâm và không muốn tiếp tục duy trì đến mối quan hệ hôn nhân giữa ông và bà T. Xét mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân giữa bà T và ông C đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, bà T xác định vợ chồng không còn tình cảm với nhau nữa nên căn cứ vào Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà T được ly hôn với ông C .

Về con chung: Bà T xác định vợ chồng có 01 con chung là cháu Đinh Ngọc V- Sinh ngày: 07/11/2015. Ly hôn, bà T có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy: Tại Biên bản xác minh ở nơi cư trú của bà T thể hiện hiện nay cháu Vđang ở cùng bà T và bản thân cháu Mai là con gái. Vì vậy, HĐXX xét thấy việc giao cháu Anh cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng là hợp lý và đảm bảo quyền, lợi ích về mọi mặt cũng như để ổn định cuộc sống của cháu Anh. Do đó, căn cứ Điều 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình, HĐXX chấp nhận yêu cầu của bà T về việc giao con chung Đinh Ngọc Vcho bà trực tiếp nuôi dưỡng. Đối với vấn đề cấp dưỡng nuôi con bà T không yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Quá trình nuôi dưỡng con chung, nếu xét thấy cần thiết, bà T và ông C đều có quyền yêu cầu Toà án có thẩm quyền giải quyết về thay đổi người trực tiếp nuôi con chung cũng như việc cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Tại phiên tòa bà T xác định vợ chồng không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Tại phiên tòa bà T xác định vợ chồng không có nợ chung nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Về đề nghị của đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng về việc giải quyết vụ án: HĐXX nhận thấy đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng phù hợp với phân tích nêu trên nên HĐXX chấp nhận.

Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Minh T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

- Điều 28, 35, 39, 147, 271, 272 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Điều 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Minh T đối với ông Đinh Ngọc C về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Minh T được ly hôn với ông Đinh Ngọc C .

(Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 37/2015 ngày 01/4/2015 đăng ký tại UBND phường Hòa Thọ Đông, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng).

2. Về con chung:

Giao con chung Đinh Ngọc V- Sinh ngày: 07/11/2015 cho bà Nguyễn Thị Minh T trực tiếp nuôi dưỡng và ông Đinh Ngọc C không phải cấp dưỡng nuôi con.

Cả hai bên đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, bên trực tiếp nuôi con không được quyền ngăn cản. Khi cần thiết có quyền yêu cầu Toà án có thẩm quyền giải quyết về thay đổi người trực tiếp nuôi con chung cũng như việc cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị Minh T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0000906 ngày 07/01/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Bà T đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

4. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự.Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Các đương sự;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Chi cục THADS quận Cẩm Lệ;

- VKSND quận Cẩm Lệ;

- UBND p. Hòa Thọ Đông;

- Lưu Hồ sơ vụ án.

Ngô Thị Thanh Tuyền

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ