- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Thanh Thuý; Hồ Văn Quen"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Các Điều 51; 56; 57, 58 Luật hôn nhân và gia đình 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 205/2020/HNGĐ-ST Ngày: 18 - 8 - 2020 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Quốc Kiệt.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Thơm;
2. Ông Huỳnh Thanh Vũ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Huyền – Thư ký Tòa án nhân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ tham gia phiên tòa: Ông Lưu Quốc Phú – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ.
Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 108/2020/TLST- HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2020 về việc “Tranh chấp ly hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 130/2020/QĐXXST - HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2020, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1978.
Địa chỉ: Ấp Q1, xã H, huyện Đ, TP. C.
(Có mặt tại phiên tòa).
Bị đơn: Anh Hồ Văn Q, sinh năm 1978.
Địa chỉ: Ấp Q1, xã H, huyện Đ, TP. C.
(Xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị Nguyễn Thị Thanh T trình bày: Do mai mối và có thời gian tìm hiểu, chị Nguyễn Thị Thanh T và anh Hồ Văn Q tự nguyện tiến tới hôn nhân có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Trung Hưng, huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ vào ngày 20/4/2016. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, nhưng sau này anh Q có mối quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, chị Thúy đã nhiều lần khuyên bảo, nhưng không có kết quả, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay.
Về con chung: Chị Thúy và anh Q có 03 con chung: Hồ Văn T(nam), sinh ngày 15/11/1996 (đã trưởng thành), Hồ Văn K (nam), sinh ngày 19/01/2000 (đã trưởng thành) và Hồ Đăng Kh(nam), sinh ngày 21/7/2012. Chị Thúy yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hồ Đăng Khoa, không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Tại bản tự khai và biên bản lấy lời khai ngày 20/7/2020, anh Hồ Văn Q trình bày: Vào năm 1995, anh và chị Thúy tìm hiểu và được cha mẹ tổ chức lễ cưới, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Trung Hưng, huyện Cờ Đỏ vào ngày 20/4/2016, nguyên nhân mẫu thuẫn vợ chồng là khi làm ăn khá giả thì chị Thúy coi thường anh, sau đó anh bỏ về nhà cha mẹ ruột sinh sống, vợ chồng ly thân từ năm 2016 đên nay, anh Q không thừa nhận mình có mối quan hệ với người phụ nữ khác, đó chỉ là quan hệ bạn bè, nhưng anh Q đồng ý ly hôn với chị Thúy. Về con chung, anh Q thống nhất giao con chung chưa thành niên là Hồ Đăng Khcho chị Thúy nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng cho con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành triệu tập hợp lệ nhiều lần đối với anh Q để tham gia phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh Q vẫn vắng mặt, nên vụ án không tiến hành hòa giải được. Do đó, vụ án được đưa ra xét xử công khai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ trình bày ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký và nguyên đơn đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Tòa án xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp ly hôn” là phù hợp; bị đơn có nơi cư trú tại huyện Cờ Đỏ nên Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.
Về nội dụng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Nguyễn Thị Thanh T, Chị Thúy được ly hôn với anh Hồ Văn Q; Về con chung: Giao con chung chưa thành nên là Hồ Đăng Kh(nam), sinh ngày 21/7/2012 cho chị Thúy trực tiếp nuôi dưỡng; ghi nhận sự tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng của chị Thúy.
Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự trình bày là không có nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Nguyễn Thị Thanh T và anh Hồ Văn Q, tiến tới hôn nhân có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Nay, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn chị Thúy có đơn xin ly hôn với anh Q. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, bị đơn có nơi cư trú tại địa bàn huyện Cờ Đỏ, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ theo quy định tại Khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng:
Anh Q có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Q theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh T và anh Hồ Văn Q, tiến tới hôn nhân có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vào ngày 20/4/2016 tại Ủy ban nhân dân xã Trung Hưng, huyện Cờ Đỏ, TP. Cần Thơ, nên xác định đây là hôn nhân hợp pháp. Về nguyên nhân mâu thuẫn: Chị Thúy cho rằng anh Q có mối quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác không chăm lo cho vợ con, bản thân anh Q không thừa nhận có mối quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, nhưng thừa nhận vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2016 đến nay, anh Q có ý kiến ly hôn với chị Thúy, vào năm 2018 anh Q đã có đơn xin ly hôn với chị Thúy, nhưng đã rút lại yêu cầu khởi kiện. Nên, Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa các đương sự đã thật sự sâu sắc trầm trọng, không thể hàn gắn tình cảm, mục đích của hôn nhân là hạnh phúc không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của chị Thúy là có cơ sở chấp nhận.
Về con chung: Hồ Văn T(nam), sinh ngày 15/11/1996 (đã trưởng thành), Hồ Văn K (nam), sinh ngày 19/01/2000 (đã trưởng thành), nên không xem xét. Đối với cháu Hồ Đăng Kh(nam), sinh ngày 21/7/2012, chị Thúy yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hồ Đăng Kh đến tuổi trưởng thành, anh Q cũng có ý kiến giao cháu Khcho chị Thúy trực tiếp nuôi dưỡng, bản thân cháu Khcũng có nguyện vọng sinh sống cùng với chị Thúy. Do đó, giao cháu Khcho chị Thúy nuôi dưỡng là phù hợp. Chị Thúy không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con, đây là sự tự nguyện của đương sự nên ghi nhận.
Về tài sản chung và nợ chung: Ghi nhận lời khai của các đương sự là không có, nếu sau này phát sinh tranh chấp và có yêu cầu thì giải quyết bằng vụ án khác.
Về án phí: Chị Thúy phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng, theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 192; Điều 227; Điều 228; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Áp dụng: Các Điều 51; 56; 57, 58 Luật hôn nhân và gia đình 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin hôn của chị Nguyễn Thị Thanh T với anh Hồ Văn Q.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh T được ly hôn với anh Hồ Văn Q.
Về con chung: Chị Thúy được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung chưa thành niên là cháu Hồ Đăng Kh (nam), sinh ngày 21/7/2012, đến tuổi trưởng thành. Chị Thúy không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho anh Q, không ai được quyền ngăn cản.
Anh Q không được quyền lạm dụng quyền thăm con để gây ảnh hưởng đến việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung của chị Thúy, nếu có thì chị Thúy có quyền yêu cầu hạn chế việc thăm con của anh Q.
Vì lợi ích mọi mặt của con chung, các đương sự có quyền thay đổi quyền nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung và nợ chung: Ghi nhận lời khai của các đương sự là không co, nếu sau này phát sinh tranh chấp và có yêu cầu thì giải quyết bằng vụ án khác.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thanh T chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; chuyển số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị Thúy đã nộp theo biên lai số 013126 ngày 27/5/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cờ Đỏ thành tiền án phí.
Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Thanh T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Hồ Văn Q có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thựa hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP. Cần Thơ; - VKSND huyện Cờ Đỏ; - Chi cục THADS huyện Cờ Đỏ; - UBND xã Trung Hưng, huyện Cờ Đỏ; - Các đương sự; - Lưu Hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Quốc Kiệt |